Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh “Cultus” mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo từ: “Cultus Agri” là “gieo trồng ruộng đất” hay “Cultus Animi” là “gieo trồng tinh thần”. Năm 1952, trong quyển sách “Culture, a critical review of concept and definitions” (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa) của A. Kroeber và Kluckhohn đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau.
Cho tới nay, người ta đã thống kê có khoảng hơn 400 khái niệm về văn hóa. Mỗi khái niệm phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu của các học giả. Đứng trên lập trường là một nhà nhân học, Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: “văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể kết hợp gồm: kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được”1. Song, William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào đã thể hiện qua: các thiết chế, tập tục, phản ứng, cư xử,…nhằm nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị2.
Hay, định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của văn hóa do Pitirim-Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard trình bày như sau: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau3. Theo đó, năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay 1 Shaefer, T. Richard, Xã hội học (2003) - Nhà xuất bản Thống kê, tr. Jonhn, Xã hội học (1987) - Nhà xuất bản Thống kê, tr.
Jonhn, Xã hội học (1987) - Nhà xuất bản Thống kê, tr.108 12 một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin1. Ở Việt Nam cũng có rất nhiều học giả đưa ra khái niệm văn hóa như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm,… Song, để phù hợp với mục đích của bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm của Trần Ngọc Thêm. Khái niệm ấy được phát biểu như sau: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội 2. Qua đó có thể hình dung văn hóa chính là thành tựu được gầy dựng từ xã hội loài người.
Hàng loạt giá trị vật chất và phi vật chất được kết tinh thông qua quá trình tác động của con người đến môi trường tự nhiên hoặc được nảy sinh từ chính mối quan hệ tương tác qua lại giữa con người với nhau trong đời sống xã hội đều được xem là văn hóa. Văn hóa vật chất (văn hóa vật thể) Văn hóa vật chất là các giá trị văn hóa tồn tại một cách hữu linh, con người có thể nhận biết một cách cảm tính, trực tiếp qua các giác quan (cung điện, chùa tháp, hiện vật trưng bày trong bảo tàng, thắng cảnh thiên nhiên…) có giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học được cộng đồng dân tộc, nhân loại thừa nhận. Đó là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và giá trị thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người. Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người 3.
Văn hóa vật thể được khái quát hóa bằng nhiều phương pháp khác nhau tạo nên những giá trị văn hóa cao trong nền văn hóa của dân tộc. Đặc biệt là trong nền văn 1 http://www.TS Trần Ngọc Thêm (1999), “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, NXB Giáo Dục, tr. 3 “Các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể”, http://tailieu.vn/doc/luan-van-tot-nghiep-de-tai-cac-di-san-van-hoa-vat- the-va-phi-vat-the-687371. 13 hóa tinh thần cho con người biết tận dụng và phát huy một cách toàn diện.
Bên cạnh đó còn nâng cao được các giá trị phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế cho đất nước. Văn hóa vật chất và phi vật chất liên quan chặt chẽ với nhau. Khảo sát một nền văn hóa có thể thấy văn hóa vật chất phản ánh những giá trị văn hóa mà nền văn hóa đó coi là quan trọng. Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể) Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác.
Bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác 1. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa2 1. Tính hệ thống Văn hóa là nền tảng của xã hội. Vì vậy, trước hết văn hóa phải có tính hệ thống.
Nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa, phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó. Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa đã thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Tính giá trị Văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Tùy theo mục đích, ý nghĩa, thời gian mà người ta có các giá trị văn hóa khác nhau.
Song, nhờ đặc trưng giá trị, văn hóa đã thực hiện được chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội. 1 Theo Luật di sản văn hóa. 2 Trần Ngọc Thêm (1999), “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, NXB Giáo Dục, tr. Tính nhân sinh Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người.
Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên. Do mang tính nhân sinh, văn hóa đã thực hiện được chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết con người lại với nhau. Tính lịch sử Văn hóa là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau. Do đó, văn hóa thực hiện chức năng giáo dục thông qua truyền thống văn hóa.
Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ nghi,… Bằng những truyền thống được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người. Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử. Khái niệm Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “ Tonus” với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “Tornus” và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp) nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi.
Theo Robert Lanquar (năm 1980) từ “Tourist” lần đầu xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng mà không dịch nghĩa. Ngày nay du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên cho đến nay thì nhận thức về du lịch vẫn chưa thống nhất. Do hoàn cảnh và góc độ nghiên cứu khác nhau, có rất nhiều định nghĩa về du lịch do các cá nhân tổ chức phi chính phủ công bố trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau.
Theo Viện Hàn Lâm quốc tế về du lịch: “Du lịch là tập hợp các hoạt động mang tính tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình là công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch”. 15 Trong Tiếng Việt thuật ngữ du lịch được dịch qua âm Hán- Việt : du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải1. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, khái niệm du lịch gồm hai thành phần riêng biệt: o Theo định nghĩa thứ nhất: Du lịch là hoạt động của cá nhân hay tập thể trong thời gian rảnh rỗi đi đến và ở lại những nơi nằm bên ngoài khu vực lưu trú thường xuyên trong hơn 24 giờ, có tiêu tiền, lưu trú qua đêm và có sự trở về, nhằm mục đích giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, chữa bệnh, tôn giáo… và thông qua các hoạt động du lịch đó con người có thể tham quan, khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm, hoặc hành nghề hay nhiều mục đích khác nữa. o Theo định nghĩa thứ hai: Du lịch là một hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về mọi mặt nhằm nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích, truyền thống lịch sử dân tộc, góp phần tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình.
Đây được coi là một hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Bao gồm các hoạt động xây dựng, tiếp thị quảng bá, bán và thực hiện chương trình du lịch cùng các dịch vụ du lịch đính kèm.