Tổng quan nghiên cứu
Du lịch sinh thái trên toàn cầu đang tăng trưởng nhanh chóng với tốc độ bình quân từ 10% đến 15% mỗi năm, trở thành phân khúc năng động hàng đầu trong ngành kinh tế xanh. Tại Việt Nam, quần đảo Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng với tổng diện tích tự nhiên hơn 20.000 hecta cùng hệ sinh thái biển đảo phong phú đã được UNESCO chính thức công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2004. Sự kiện này tạo đòn bẩy thúc đẩy lượng du khách đến đảo tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2001 - 2006 với tốc độ bình quân trên 18%/năm. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về lượng khách trong khi sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chủ yếu mang tính mùa vụ tự phát, đã gây áp lực nặng nề lên môi trường tự nhiên và làm suy giảm đa dạng sinh học tại vùng lõi.
Đứng trước thách thức dung hòa giữa bảo tồn thiên nhiên và tăng trưởng kinh tế, luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thùy Linh dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Trung Lương tập trung giải quyết bài toán phát triển sản phẩm du lịch sinh thái có trách nhiệm tại Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà. Nghiên cứu xác định mục tiêu làm rõ tiềm năng tài nguyên, đánh giá thực trạng khai thác, nhận diện nguyên nhân cốt lõi khiến hoạt động du lịch sinh thái chưa tương xứng với tiềm năng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi.
Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung trọng điểm vào Vườn Quốc gia Cát Bà cùng các vùng đệm, vùng chuyển tiếp trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; phạm vi thời gian phân tích chuỗi dữ liệu thực tế từ năm 2001 đến năm 2007 và xây dựng định hướng phát triển đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng nhằm kéo dài thời gian lưu trú bình quân của du khách từ khoảng 1,3 ngày lên trên 2,5 ngày, gia tăng chi tiêu bình quân và nâng tỷ lệ tham gia hưởng lợi trực tiếp của cộng đồng địa phương lên trên 35%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc kết hợp 2 lý thuyết nền tảng và mô hình quản trị sinh thái hiện đại:
Thứ nhất, Lý thuyết phát triển du lịch bền vững theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 1992) tại Hội nghị Rio de Janeiro. Lý thuyết này nhấn mạnh việc khai thác tài nguyên môi trường tự nhiên và văn hóa phải đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, bảo đảm duy trì tính toàn vẹn sinh thái và nâng cao mức sống cộng đồng.
Thứ hai, Lý thuyết sức chứa du lịch (Tourism Carrying Capacity) do Buckley hoàn thiện năm 1994, phân tích giới hạn tiếp nhận của điểm đến qua 4 phương diện: sức chứa vật lý (số lượng không gian tiếp nhận tối đa), sức chứa sinh học môi trường (ngưỡng chịu đựng của hệ sinh thái), sức chứa tâm lý (mức độ hài lòng của du khách) và sức chứa văn hóa - xã hội (ngưỡng tác động đến cộng đồng bản địa).
Bên cạnh đó, tác giả chuẩn hóa 4 khái niệm then chốt:
- Du lịch sinh thái: Dựa trên quan điểm của Héctor Ceballos-Lascurain (1987) và Hội thảo Quốc gia Việt Nam (1999), xác định đây là hình thức du lịch dựa vào tự nhiên, có giáo dục môi trường, đóng góp cho bảo tồn và có sự tham gia tích cực của cư dân bản địa.
- Tài nguyên du lịch sinh thái: Bao gồm hệ sinh thái điển hình (rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi, rừng ngập mặn, rạn san hô) và văn hóa bản địa gắn liền với sinh thái.
- Phân vùng chức năng khu dự trữ sinh quyển: Gồm vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm phục hồi sinh thái và vùng chuyển tiếp phát triển kinh tế.
- Mối quan hệ giữa du lịch và bảo tồn: Được mô hình hóa qua 3 trạng thái gồm cùng tồn tại, cộng sinh hỗ trợ lẫn nhau và mâu thuẫn xung đột lợi ích.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa trong khung thời gian 18 tháng (từ đầu năm 2006 đến giữa năm 2007):
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê của Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà, Sở Du lịch Hải Phòng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2006, cùng các công trình khoa học quốc tế về quản lý khu bảo tồn.
Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát xã hội học với cỡ mẫu 180 du khách (trong đó có 95 du khách nội địa và 85 du khách quốc tế) và 60 hộ dân bản địa. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 3 điểm du lịch trọng điểm: Trung tâm Vườn Quốc gia, Hang Quân Y và Đảo Cát Dứa. Cỡ mẫu này bảo đảm độ tin cậy thống kê trên 95% và sai số ước lượng dưới 5%. Đối với cộng đồng cư dân, phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích được triển khai tại xã Việt Hải và xã Trân Châu nhằm đánh giá chính xác mức độ tham gia sinh kế.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp ma trận SWOT và phân tích không gian lãnh thổ là nhằm định lượng hóa tương quan giữa tăng trưởng lượng khách với mức độ suy thoái tài nguyên, đồng thời xác lập luận cứ khoa học vững chắc để hoạch định sản phẩm du lịch phù hợp với từng phân khu chức năng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phát hiện thứ nhất, Cát Bà sở hữu nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô cùng phong phú nhưng sản phẩm khai thác còn nghèo nàn và đơn điệu. Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà lưu giữ hơn 1.500 loài thực vật bậc cao và hàng trăm loài động vật hoang dã, đặc biệt là loài Voọc Cát Bà đặc hữu quý hiếm với quần thể cực kỳ nguy cấp chỉ còn dưới 70 cá thể tại thời điểm nghiên cứu. Mặc dù có tiềm năng to lớn, hơn 85% du khách chỉ tham gia các hoạt động truyền thống như tắm biển và đi bộ xuyên rừng trên các tuyến ngắn lặp lại, khiến giá trị sinh thái đặc sắc chưa được khai thác chiều sâu.
Phát hiện thứ hai, tốc độ tăng trưởng lượng khách nhanh nhưng hiệu quả kinh tế thấp và mang tính mùa vụ cực đoan. Tổng lượt khách đến Cát Bà giai đoạn 2001 - 2006 tăng gấp 2,8 lần, song thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt khoảng 1,3 đến 1,5 ngày/khách. Đáng chú ý, hơn 70% tổng lượng khách nội địa dồn dập đổ về đảo trong 3 tháng hè (tháng 5, tháng 6 và tháng 7), gây ra tình trạng quá tải hạ tầng cục bộ và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại khu vực Bến Bèo và thị trấn Cát Bà.
Phát hiện thứ ba, tỷ lệ chia sẻ lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương còn rất khiêm tốn. Khảo sát thực tế chỉ ra chỉ có khoảng 12% cư dân tại vùng đệm tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái với vai trò hướng dẫn viên bản địa, cung cấp dịch vụ lưu trú homestay hay vận chuyển thuyền bè; gần 80% doanh thu du lịch chảy về các công ty lữ hành bên ngoài đảo, làm giảm động lực bảo tồn rừng của người dân địa phương.
Phát hiện thứ tư, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công tác giáo dục môi trường chưa đáp ứng tiêu chuẩn du lịch sinh thái. Hệ thống biển chỉ dẫn diễn giải môi trường tại Vườn Quốc gia Cát Bà mới đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiếp nhận thông tin của du khách; lượng chất thải sinh hoạt mùa cao điểm vượt công suất thu gom tại chỗ khoảng 25% đến 30%, đe dọa trực tiếp các rạn san hô và sinh cảnh rừng ngập mặn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ sự thiếu vắng một quy hoạch không gian du lịch sinh thái tổng thể, nguồn lực đầu tư còn dàn trải và cơ chế phối hợp giữa Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà, chính quyền địa phương cùng các doanh nghiệp lữ hành còn lỏng lẻo.
Dữ liệu nghiên cứu khi được trình bày qua biểu đồ biến thiên lượng khách 12 tháng trong năm và bảng so sánh 5 chỉ tiêu lưu trú giữa Cát Bà với các Vườn Quốc gia Cúc Phương và Bạch Mã cho thấy rõ nét tính khập khiễng trong cơ cấu doanh thu.
So sánh với bài học quốc tế, Cát Bà đang đứng trước nguy cơ xung đột môi trường tương tự Quần đảo Galapagos (Ecuador), nơi lượng khách nội địa từng tăng 245% phá vỡ sức chứa sinh thái của các đảo nhỏ. Ngược lại, Cát Bà hoàn toàn có thể áp dụng bài học thành công từ Dự án Bảo tồn Annapurna (Nepal) - nơi đã giải quyết 60% áp lực quá tải bằng cách đào tạo chủ nhà trọ sử dụng năng lượng mặt trời, hoặc mô hình Oliver's Camp (Tanzania) trích trực tiếp 12 USD/khách vào quỹ phúc lợi cộng đồng 2 làng bản địa. Việc giáo dục môi trường đúng cách sẽ chuyển hóa mối quan hệ từ đối đầu sang cộng sinh bền vững giữa bảo tồn và phát triển du lịch.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm phát triển bền vững sản phẩm du lịch sinh thái tại Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:
Thứ nhất, phân vùng không gian tổ chức hoạt động du lịch sinh thái nghiêm ngặt. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải tiến hành cắm mốc ranh giới rõ ràng cho 3 phân khu; thiết lập hạn ngạch sức chứa tối đa không quá 300 khách/ngày tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, thực hiện từ quý 1 năm 2008 nhằm giảm 40% tác động tiêu cực lên sinh cảnh sống của loài Voọc Cát Bà.
Thứ hai, đa dạng hóa và nâng cấp chất lượng chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái đặc thù. Sở Du lịch Hải Phòng chủ trì liên kết với các doanh nghiệp lữ hành chuyên nghiệp thiết kế 3 dòng sản phẩm mới: tour trekking khám phá rừng nguyên sinh kết hợp cắm trại sinh thái có kiểm soát, tour chèo thuyền kayak khám phá vịnh Lan Hạ gắn với diễn giải san hô, và tour du lịch sinh thái nông nghiệp tại thung lũng Việt Hải; đặt mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân lên 2,2 ngày/khách trước năm 2010.
Thứ ba, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích và phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải ban hành quy chế trích 10% đến 15% nguồn thu phí tham quan thắng cảnh để tái đầu tư vào quỹ sinh kế địa phương; tổ chức đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng, ngoại ngữ và sơ cấp cứu cho 200 hộ dân tại xã Việt Hải và Trân Châu trong giai đoạn 2008 - 2009, nâng tỷ lệ lao động bản địa tham gia chuỗi dịch vụ lên 40%.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác giáo dục môi trường và xúc tiến tiếp thị xanh. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà đầu tư nâng cấp 100% hệ thống biển bảng thuyết minh sinh thái, xuất bản 50.000 tập gấp hướng dẫn ứng xử có trách nhiệm, đồng thời phối hợp ngành du lịch thành phố triển khai chiến dịch quảng bá chuyên biệt hướng đến thị trường khách châu Âu và Bắc Âu lưu trú dài ngày, nhằm giảm tỷ trọng lượng khách mùa cao điểm hè từ 70% xuống dưới 50% vào năm 2012.
Về mặt kiến nghị chính sách, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng cùng Sở Du lịch cần thành lập tổ liên ngành kiểm tra định kỳ 6 tháng/lần về đánh giá tác động môi trường du lịch và xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm quy chuẩn xả thải tại khu bảo tồn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:
Nhóm 1, Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý các Khu bảo tồn, Vườn Quốc gia: Nắm bắt phương pháp luận đánh giá sức chứa du lịch và mô hình phân vùng chức năng không gian để áp dụng vào quy hoạch tổng thể cho hơn 30 vườn quốc gia trên toàn quốc.
Nhóm 2, Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch sinh thái: Sử dụng dữ liệu phân tích thị hiếu du khách để thiết kế các tour du lịch sinh thái có trách nhiệm, xây dựng hạ tầng lưu trú thân thiện môi trường và tăng từ 20% đến 30% doanh thu thông qua các sản phẩm cao cấp.
Nhóm 3, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Địa lý, Quản lý Môi trường: Tham khảo khung lý thuyết phát triển du lịch bền vững, các case study quốc tế thực chứng cùng quy trình xử lý dữ liệu điều tra xã hội học mẫu chuẩn mực.
Nhóm 4, Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và chuyên gia bảo tồn thiên nhiên: Khai thác các phát hiện thực nghiệm về mối liên hệ giữa sinh kế cộng đồng và đa dạng sinh học để xây dựng các dự án tài trợ phát triển bền vững cho hơn 1.500 loài động thực vật quý hiếm tại các vùng đệm sinh quyển.
Câu hỏi thường gặp
Khái niệm du lịch sinh thái được luận văn tiếp cận theo góc độ nào? Luận văn kế thừa định nghĩa của Héctor Ceballos-Lascurain (1987) và Hội thảo Quốc gia về Du lịch Sinh thái (1999), xác định du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên, gắn liền với bản sắc văn hóa địa phương, chú trọng giáo dục diễn giải môi trường và bảo đảm cộng đồng bản địa được hưởng lợi trực tiếp nhằm phục vụ mục tiêu bảo tồn bền vững.
Nguyên nhân cốt lõi khiến du lịch Cát Bà mang tính mùa vụ nặng nề là gì? Nguyên nhân chủ yếu do sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, trên 85% du khách chỉ tập trung vào dịch vụ tắm biển mùa hè, dẫn đến hơn 70% lượng khách dồn vào 3 tháng 5, 6, 7. Các sản phẩm khám phá rừng nguyên sinh, thám hiểm hang động và trải nghiệm văn hóa bản địa chưa được đầu tư tiếp thị đúng mức để thu hút khách quốc tế mùa thu đông.
Luận văn đề xuất bài học quốc tế nào có thể áp dụng ngay cho Cát Bà? Tác giả đề xuất áp dụng mô hình của Dự án Annapurna (Nepal) trong việc đào tạo người dân sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng và mô hình Oliver's Camp (Tanzania) trích 12 USD/khách cho quỹ làng bản địa, đồng thời cảnh báo Cát Bà cần kiểm soát tải lượng khách nghiêm ngặt để tránh vết xe đổ suy thoái môi trường như Quần đảo Galapagos (Ecuador).
Hệ thống 4 phương diện của sức chứa du lịch trong luận văn gồm những gì? Bao gồm sức chứa vật lý (không gian tiếp nhận tối đa của điểm đến), sức chứa sinh học môi trường (ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái trước chất thải và tác động con người), sức chứa tâm lý (mức độ hài lòng, thoải mái của du khách) và sức chứa văn hóa - xã hội (ngưỡng chấp nhận tác động văn hóa của cộng đồng địa phương).
Cơ chế nào giúp cộng đồng địa phương chủ động tham gia bảo vệ môi trường? Cơ chế cốt lõi là chia sẻ lợi ích kinh tế minh bạch thông qua việc trích 10% đến 15% phí tham quan hỗ trợ sinh kế và tổ chức đào tạo nghề du lịch cho 200 hộ dân. Khi nhận được thu nhập ổn định từ các dịch vụ lưu trú homestay và hướng dẫn viên, người dân sẽ trở thành lực lượng bảo tồn thiên nhiên tự giác và tích cực nhất.
Kết luận
- Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về du lịch sinh thái, sức chứa du lịch và bài học kinh nghiệm quốc tế áp dụng cho khu dự trữ sinh quyển.
- Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển du lịch tại Cát Bà giai đoạn 2001 - 2006, chỉ rõ nghịch lý giữa tiềm năng đa dạng sinh học phong phú với tính mùa vụ cực đoan và hiệu quả kinh tế thấp.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về phân vùng không gian, đa dạng hóa sản phẩm đặc thù, chia sẻ lợi ích cộng đồng và truyền thông giáo dục môi trường.
- Xác lập hệ thống khuyến nghị thực thi đồng bộ gửi các sở, ngành tại Hải Phòng và Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà với lộ trình thực hiện đến năm 2012 và tầm nhìn 2020.
- Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng công nghệ thông tin địa lý (GIS) trong quan trắc biến động sức chứa môi trường sinh thái định kỳ.
Để biến tiềm năng thành động lực phát triển bền vững, các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng cư dân Cát Bà cần nhanh chóng bắt tay hiện thực hóa các giải pháp quy hoạch xanh, cùng chung tay gìn giữ và nâng tầm Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà trở thành điểm đến du lịch sinh thái kiểu mẫu của Việt Nam.