phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về huy động tài chính từ kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái tại VQG Chƣơng II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG TÀI CHÍNH TỪ KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH SINH THÁI TẠI VQG 1. Du lịch sinh thái trong Vƣờn quốc gia 1. Khái niệm - Vườn quốc gia: Là một khu vực đất hay biển đƣợc bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại.
Vƣờn quốc gia đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con ngƣời. Vƣờn quốc gia thƣờng đƣợc thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt trƣớc sự khai thác của con ngƣời. Các vƣờn quốc gia là một khu vực đƣợc bảo vệ theo quy định của IUCN loại II. Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) thì VQG là: Khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặc vùng biển, đƣợc chọn để: - Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tƣơng lai, - Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực và - Chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và tham quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tƣơng thích về văn hóa và môi trƣờng.
- Du lịch sinh thái: Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào đƣợc cải thiện, thực sự đã có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lƣợc và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thế giới. 12 Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình nhƣ: Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái (DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 nhƣ sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thƣởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng nhƣ những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) đƣợc khám phá trong những khu vực này. Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”. Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đƣa ra khái niệm về du lịch sinh thái “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tƣợng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thƣởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái.
Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng nhƣ giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”. Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái đƣợc hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng dân cƣ ở địa phƣơng nhằm phát triển bền vững”. 13 Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái (The Internatonal Ecotourism society) thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trƣờng và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phƣơng”.
- Kinh doanh dịch vụ DLST Kinh doanh là phƣơng thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phƣơng pháp, hình thức và phƣơng tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tƣ, sản xuất, vận tải, thƣơng mại, dịch vụ.) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất. Kinh doanh dịch vụ DLST là hoạt động kinh doanh, cung cấp các dịch vụ và hàng hóa vô hình dựa trên hình thức du lịch sinh thái, thu lợi bằng cách tính giá sức lao động hoặc các dịch vụ đã cung cấp cho chính phủ, các lĩnh vực kinh doanh khác hoặc khách hàng. Vai trò của DLST đối với VQG Qua tìm hiểu các khái niệm trên ta có thể thấy rằng các VQG cũng là một địa điểm DLST hấp dẫn ở Việt Nam, bởi đây chính là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn khách du lịch sinh thái nhất. VQG có những yếu tố gây hấp dẫn cho khách du lịch đó là những thông tin về Đa dạng sinh học (ĐDSH), những phát hiện mới về các loài động - thực vật và những cảnh đẹp thiên nhiên.
Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng du khách đến với VQG có những sở thích về muốn khám phá cảnh đẹp, do vậy họ chỉ lƣu lại những khu vực này với thời gian rất ngắn, họ muốn có những trải nghiệm thực sự với thiên nhiên, có thể có những tác động đến bảo tồn ĐDSH. Nhƣng không quan trọng miễn là chúng ta có cách quản lý tốt, DLST cũng là những nguồn thu lợi hiệu quả góp một phần tài chính vào việc bảo tồn và cải thiện sinh kế cho ngƣời dân. Hiện nay DLST đang đóng một vai trò quan trọng trong nhiều dự án bảo tồn thiên nhiên và phát triển cảnh quan, các mục tiêu của DLST có liên quan đến VQG là: 14 - Sự tƣơng thích về mặt sinh thái và văn hóa của phát triển du lịch là một điều kiện quan trọng. - Phát triển Du lịch phải hỗ trợ tài chính cho công tác bảo tồn ở VQG.
- Tạo thu nhập cho ngƣời dân địa phƣơng. - Góp phần quan trọng nhằm thuyết phục mọi ngƣời chấp nhận bảo tồn thiên nhiên là một kết quả gián tiếp của các tác động kinh tế. Du lịch sinh thái là cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phƣơng và các KBTTN & VQG. Đó cũng là một phần lý tƣởng của chiến lƣợc phát triển bền vững trong đó tài nguyên thiên nhiên đƣợc sử dụng nhƣ một yếu tố thu hút khách du lịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của khu vực.
Là một công cụ quan trọng trong quản lý VQG. Tuy vậy phát triển DLST phải đảm bảo đƣợc phát triển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Đặc trưng của kinh doanh DLST tại VQG DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trƣng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm: Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tƣợng đƣợc khai thác để phục vụ du lịch (Sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo. Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nƣớc, nông sản, hàng hóa…).
Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những ngƣời phục vụ du lịch, cộng đồng địa phƣơng, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch. Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử - văn hóa, nâng cáo chất lƣợng cuộc sống của khách du lịch và ngƣời tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lƣu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội. Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một quần thể các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau. 15 Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hạt động du lịch tập trung với cƣờng độ cao trong năm.
Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch theo mùa (Theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí… (Theo tính chất công việc của những ngƣời hƣởng thụ sản phẩm du lịch). Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hƣởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải mục tiêu kiếm tiền. Tính xã hội hóa: Biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã hội tham gia (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) vào hoạt động du lịch. Bên cạnh các đặc trƣng của du lịch nói chung, DLST cũng hàm chứa những đặc trƣng riêng bao gồm: Tính giáo dục cao về môi trƣờng: DLST hƣớng con ngƣời tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và khu bảo tồn thiên nhiên, các VQG nơi có giá trị cao về đa dạng sinh họcvà rất nhạy cảm về mặt môi trƣờng.
Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trƣờng, và DLST đƣợc coi là chiếc chìa khóa nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trƣờng. Góp phần bảo tồn các nguồn TNTN và duy trì tính ĐDSH: Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con ngƣời bảo vệ TNTN và môi trƣờng, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn TNTN cũng nhƣ thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng: Cộng đồng địa phƣơng chính là ngƣời chủ sở hữu các nguồn TNTN tại địa phƣơng mình.