Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung giải quyết bài toán quản lý và khai thác nguồn lực tài chính từ dịch vụ du lịch sinh thái (DLST) tại Vườn quốc gia (VQG) Ba Vì, thành phố Hà Nội. VQG Ba Vì sở hữu địa hình núi cao chuyển tiếp với hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, bao gồm nhiều đỉnh núi có độ cao trên 1.000 m như đỉnh Vua (1.296 m), đỉnh Tản Viên (1.227 m), đỉnh Ngọc Hoa (1.131 m) và các đai cao cốt 400 m, 600 m, 800 m. Bên cạnh giá trị bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen động thực vật quý hiếm, khu vực này còn lưu giữ các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia như đền Thượng, đền Trung, đền thờ Bác Hồ và tháp Báo Thiên. Với vị trí địa lý thuận lợi gần trung tâm thủ đô Hà Nội, Vườn tiếp nhận hàng trăm nghìn lượt khách tham quan mỗi năm.

Để giảm bớt gánh nặng phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước (NSNN) và tạo nguồn kinh phí tái đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), VQG Ba Vì đã triển khai các hoạt động kinh doanh dịch vụ DLST. Tuy nhiên, việc huy động các nguồn tài chính từ hoạt động này còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về cơ chế, tổ chức thực hiện và năng lực quản lý. Do đó, nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định các giải pháp tối ưu hóa nguồn thu gắn liền với chức năng bảo tồn thiên nhiên của Vườn.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về huy động tài chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ DLST tại các VQG.
  2. Đánh giá thực trạng huy động nguồn tài chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ DLST tại VQG Ba Vì giai đoạn 2015 – 2017.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh dịch vụ DLST tại VQG Ba Vì trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác huy động tài chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ DLST tại VQG Ba Vì.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn quản lý của Vườn quốc gia Ba Vì.
  • Phạm vi nội dung: Thực trạng tổ chức các nguồn thu du lịch, các mô hình liên kết, cho thuê môi trường rừng và các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài chính du lịch tại đơn vị.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp về tài chính và du khách được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2017; điều tra khảo sát thực địa được thực hiện trong năm 2018 (tập trung vào tháng 3 và tháng 4/2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống khái niệm và văn bản quản lý nhà nước về tài chính lâm nghiệp và du lịch sinh thái:

  • Khái niệm Vườn quốc gia theo phân hạng của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN loại II) và các quy định pháp luật của Việt Nam.
  • Khái niệm Du lịch sinh thái: Kế thừa các định nghĩa của Hector Ceballos-Lascurain (1987), Hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tại Việt Nam (1999), Lê Huy Bá (2000), Luật Du lịch năm 2005, Quy chế quản lý các hoạt động DLST tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 2007, cùng quan điểm của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế (TIES).
  • Cơ sở lý luận về tài chính, nguồn lực tài chính và bản chất của nghiệp vụ huy động nguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập có thu.
  • Cơ chế tạo nguồn tài chính từ DLST tại các khu rừng đặc dụng, bao gồm: (1) VQG tự tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ; (2) Cho thuê môi trường rừng (MTR) theo Nghị định số 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 và Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; (3) Hợp tác liên doanh, liên kết đầu tư phát triển du lịch.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp giữa nghiên cứu bàn giấy và điều tra thực nghiệm:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các công trình nghiên cứu trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển, các báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch giai đoạn 2015 – 2017 của Phòng Kế hoạch - Tài chính và Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ (GDMT&DV) VQG Ba Vì, các văn bản quy hoạch điều chỉnh của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Thực hiện phỏng vấn chuyên sâu cán bộ quản lý của Vườn và tiến hành điều tra bảng hỏi đối với 200 khách du lịch tại VQG Ba Vì trong tháng 3 và tháng 4 năm 2018. Cỡ mẫu n = 200 được xác định dựa trên yêu cầu về độ tin cậy thống kê (đạt ngưỡng tối thiểu trên 100 mẫu) nhằm đánh giá đặc điểm du khách và mức sẵn lòng chi trả (WTP) đối với vé tham quan.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp số liệu, lập bảng biểu thống kê; áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh theo chuỗi thời gian để nhận diện xu thế tăng trưởng của doanh thu và du khách; áp dụng phân tích ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác phát triển DLST tại đơn vị.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động tài chính từ kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái tại VQG

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về DLST trong rừng đặc dụng. Khóa luận phân tích các đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của hoạt động DLST tại VQG, bao gồm: tính đa ngành, tính đa thành phần, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi phí, tính xã hội hóa, tính giáo dục môi trường cao và yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học gắn với sự tham gia của cộng đồng địa phương.

Về mặt tài chính, tác giả làm rõ bản chất của việc hình thành và phân bổ các quỹ tiền tệ tại VQG từ ba kênh thu chính: nguồn thu từ hoạt động tự doanh (bán vé tham quan, phí trông giữ phương tiện, dịch vụ lưu trú, ăn uống, chụp ảnh, quay phim); nguồn thu từ cho thuê môi trường rừng theo hợp đồng dài hạn (không quá 50 năm, xem xét gia hạn không quá 20 năm); và nguồn thu từ các đề án liên doanh, liên kết với doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, chương này chỉ ra 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả huy động tài chính: nhận thức môi trường của du khách và dân cư; chiến lược quy hoạch của VQG; trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân lực; hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch; hoạt động tiếp thị, xúc tiến quảng bá; và công tác phối hợp liên ngành giữa các bên liên quan.

Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Chương 2 trình bày tổng quan về VQG Ba Vì từ lịch sử thành lập, cơ cấu tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực cho đến điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và các hoạt động sự nghiệp cơ bản. VQG Ba Vì được thành lập theo Quyết định số 17-CT ngày 16/01/1991 và Quyết định số 407/CT ngày 18/12/1991 của Hội đồng Bộ trưởng trên cơ sở sáp nhập 8 đơn vị quản lý rừng xung quanh núi Ba Vì; sau đó được mở rộng theo Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 12/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

Về tổ chức bộ máy, Vườn được quản lý bởi Ban Giám đốc (1 Giám đốc kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, 2 Phó Giám đốc) cùng 3 phòng chức năng (Tổ chức - Hành chính, Kế hoạch - Tài chính, Khoa học & Hợp tác quốc tế) và 2 đơn vị trực thuộc có con dấu và tài khoản riêng là Hạt Kiểm lâm và Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ.

Phân loại lao động Tiêu chí chi tiết Số lượng (người) Tỷ trọng (%)
Theo mối quan hệ sản xuất Lao động trực tiếp 64 73,56
Lao động gián tiếp 23 26,44
Theo giới tính Lao động nam 66 75,86
Lao động nữ 21 24,14
Theo trình độ chuyên môn Trên đại học (01 Tiến sĩ, 10 Thạc sĩ) 11 12,64
Đại học và cao đẳng (61 ĐH, 03 CĐ) 64 73,56
Trung cấp 02 2,30
Lao động phổ thông / Sơ cấp 10 11,50
Theo độ tuổi Dưới 30 tuổi 20 22,99
Từ 30 đến 50 tuổi 55 63,22
Trên 50 tuổi 12 13,79
Tổng cộng 87 100,00

Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính VQG Ba Vì, tính đến tháng 12/2017

Theo Quyết định số 1181/QĐ-BNN-TCLN, diện tích quản lý của Vườn là 10.261,75 ha phân bố trên 5 huyện thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình (Hà Nội chiếm 6.176,6 ha). Vườn chia thành 3 phân khu: phân khu phục hồi sinh thái (7.695,65 ha), phân khu hành chính và dịch vụ du lịch (120,5 ha) và phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (đã điều chỉnh giảm 7,46 ha sang phân khu dịch vụ vào năm 2018 tại khu vực đền thờ Bác Hồ, đền Thượng, tháp Báo Thiên, bãi đỗ xe cốt 1.100 m). Về tài nguyên sinh vật, Vườn ghi nhận 1.201 loài thực vật bậc cao có mạch (thuộc 649 chi, 160 họ, tăng 389 loài so với năm 1998) và hệ động vật gồm 45 loài thú, 115 loài chim, 61 loài bò sát, 27 loài ếch nhái. Trong vùng đệm có 16 xã với 5 dân tộc sinh sống (Mường 65%, Kinh 33%, Dao 1%, Thái và Cao Lan 1%), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 10,3% (2.121 hộ nghèo). Công tác QLBVR thực hiện qua hình thức giao khoán cho người dân đạt 100% kế hoạch hàng năm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 phân tích thực trạng huy động nguồn tài chính, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Các hình thức tổ chức kinh doanh DLST: Vườn áp dụng 3 hình thức:

    • Tự tổ chức kinh doanh: Trung tâm GDMT&DV phụ trách bán vé thắng cảnh, trông giữ phương tiện, kinh doanh dịch vụ ăn uống và lưu trú (tại cốt 400 m có 6 nhà nghỉ với 33 phòng, 1 bể bơi, 1 nhà hàng, 2 quầy bar, 1 sân tennis).
    • Liên doanh liên kết: Từng ký hợp đồng liên kết với 4 doanh nghiệp gồm Công ty TNHH Phát triển công nghệ (56,05 ha tại cốt 400, 600, 700, 800 m), Công ty CP Đầu tư Du lịch PICO Việt Nam (37,5 ha tại cốt 400 m), Công ty TNHH Quảng Long (1,9 ha tại đồi 451, cốt 400 m) và Công ty CP và Đầu tư Ba Vì (38,5 ha quản lý 3 vườn sưu tập tre trúc, cau dừa, xương rồng). Các hợp đồng này đang được rà soát để chuyển đổi sang hình thức thuê môi trường rừng.
    • Cho thuê môi trường rừng: Triển khai từ năm 2003 theo mô hình thí điểm đối với Công ty CP Hóa dầu Quân đội (200 ha tại núi Da Dê), Công ty Du lịch Thác Đa (71 ha) và Công ty Du lịch Thiên Sơn. Đến năm 2017, thực hiện theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, Vườn đã thanh lý 2 hợp đồng liên kết để ký hợp đồng thuê MTR với mức thu 2% doanh thu, 1 đơn vị đang hoàn thiện hồ sơ tài sản nhà nước và 1 đơn vị đang chờ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch.
  • Biến động khách du lịch và kết quả tài chính (2015 – 2017):

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Tốc độ tăng BQ (%)
Tổng lượng khách vào Vườn (lượt) 216.838 371.821 379.838 —
- Khách du lịch trong nước (lượt) 213.400 368.383 377.564 —
- Khách du lịch quốc tế (lượt) 3.438 3.438 2.274 —
Doanh thu dịch vụ DLST (đồng) 9.000.000.000 — 20.300.000.000 144,30
- Thu từ vé thắng cảnh — — 18.000.000.000 155,57
- Thu từ trông giữ phương tiện — — 742.000.000 137,73
Nguồn thu từ cho thuê MTR — — 974.000.000 57,74
- Công ty CP Hóa dầu Quân đội — — 167.000.000 77,38
- Khoán Công ty PICO — — 290.000.000 109,86
- Khoán Công ty Quảng Long 0 0 0 0
- Khoán Công ty CFTD — — 150.000.000 102,47

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Phòng Kế hoạch - Tài chính và Trung tâm GDMT&DV VQG Ba Vì

Năm 2017, tổng lượt khách đạt 379.838 lượt, khách nội địa tăng 2,49% so với năm 2016 nhưng khách quốc tế sụt giảm 33,86% (chỉ đạt 2.274 lượt). Cơ cấu doanh thu dịch vụ du lịch bị lệ thuộc nặng nề vào vé tham quan (thu về 18 tỷ đồng trên tổng số hơn 20 tỷ đồng tổng doanh thu). Hoạt động chi tiêu của Vườn duy trì ổn định với tốc độ phát triển bình quân 3 năm đạt 104,34% (tổng chi năm 2017 xấp xỉ 13 tỷ đồng).

  • Kết quả khảo sát 200 khách du lịch (tháng 3 - 4/2018):

    • Độ tuổi: Dưới 22 tuổi chiếm 36%; từ 22 đến 40 tuổi chiếm 47%; trên 40 tuổi chiếm 17%.
    • Nơi xuất phát: Từ thành phố Hà Nội và các huyện lân cận Ba Vì chiếm 64%; ngoại tỉnh chiếm 36% (Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Phòng, Bắc Giang, Nam Định).
    • Phương tiện di chuyển: Xe máy chiếm 67%; ô tô chiếm 32%; phương tiện khác chiếm 1%.
    • Mục đích chuyến đi: Tham quan, nghỉ dưỡng du lịch thuần túy chiếm 93%; công việc chiếm 1%; nghiên cứu khoa học, thực tập, du lịch tâm linh chiếm 6%.
    • Thời gian lưu trú: Đi về trong 1 ngày chiếm 79%; lưu trú từ 2 ngày trở lên chỉ chiếm 21%.
    • Thu nhập bình quân tháng: Dưới 2 triệu đồng chiếm 55%; từ 2 đến 10 triệu đồng chiếm 30%; trên 10 triệu đồng chiếm 15%.
    • Mức sẵn lòng chi trả (WTP) vé vào cổng: Mức 40.000 đồng/vé chiếm 30%; mức 50.000 đồng/vé chiếm 26%; mức 20.000 đồng, 30.000 đồng, 60.000 đồng và mức khác chiếm 44%.
  • Phân tích ma trận SWOT:

Điểm mạnh (Strengths) Điểm yếu (Weaknesses)
- Tài nguyên du lịch tự nhiên, sinh thái và văn hóa lịch sử phong phú (đền Thượng, đền Bác Hồ, tháp Báo Thiên, cốt 400 m).
- Hệ động thực vật phong phú, đa dạng.
- Vị trí cách trung tâm Hà Nội 60 km, giao thông tiếp cận thuận lợi.
- Nằm trong quần thể du lịch truyền thống (Thiên Sơn - Suối Ngà, Ao Vua, Khoang Xanh).
- Năng lực tổ chức hoạt động du lịch còn hạn chế.
- Thiếu cán bộ được đào tạo bài bản, chuyên trách về du lịch.
- Chưa có điều tra chi tiết, toàn diện về giá trị dịch vụ hệ sinh thái và văn hóa.
Cơ hội (Opportunities) Thách thức (Threats)
- Nhu cầu DLST, nghỉ dưỡng của xã hội ngày càng tăng.
- Hoạt động DLST là công cụ tạo nguồn tài chính bền vững cho bảo tồn.
- Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh thu hút lượng lớn du khách thập phương.
- Áp lực quá tải du khách vào các ngày cuối tuần, vượt sức chứa của Vườn.
- Sức ép rác thải, ô nhiễm khí thải phương tiện lên môi trường rừng.
- Tác động tiêu cực của con người và hiện tượng thời tiết cực đoan (năm 2015 xuất hiện tuyết rơi).
  • Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
    • Nâng cao năng lực cán bộ quản lý: Rà soát, bố trí cán bộ theo đúng năng lực sở trường; tăng cường tuyển dụng nhân sự có chuyên môn du lịch và kiến thức lịch sử tâm linh; mở các lớp tập huấn chuyên đề quản lý DLST cho cán bộ Vườn, đại diện chính quyền địa phương và các đơn vị thuê môi trường rừng.
    • Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ du lịch: Nâng cấp Nhà trung tâm thông tin và giáo dục môi trường (bổ sung sa bàn, tiêu bản động thực vật, bản đồ đa dạng sinh học); cải tạo các tuyến đường mòn đi bộ trong rừng, cắm biển chỉ dẫn tên cây và diễn thế rừng; hoàn thiện quy hoạch hạ tầng lưu trú và phân luồng giao thông giải tỏa áp lực cuối tuần.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu:

  • Khóa luận làm rõ bức tranh tài chính du lịch của VQG Ba Vì giai đoạn 2015 – 2017: doanh thu du lịch tăng trưởng mạnh đạt mức bình quân 144,30%/năm, đạt trên 20,3 tỷ đồng vào năm 2017; tuy vậy, cơ cấu nguồn thu thiếu bền vững khi nguồn thu từ bán vé thắng cảnh chiếm tới 88,6% tổng doanh thu (18 tỷ đồng), trong khi các nguồn thu dịch vụ bổ trợ và cho thuê môi trường rừng chỉ đóng góp tỷ trọng nhỏ (thuê MTR đạt 974 triệu đồng).
  • Số liệu khảo sát 200 du khách bóc tách được các rào cản tài chính: 55% khách có mức thu nhập thấp (dưới 2 triệu đồng/tháng), 79% du khách không lưu trú qua đêm và 67% di chuyển bằng xe máy. Dữ liệu này chứng minh việc nâng giá vé vào cổng đơn thuần sẽ vấp phải ngưỡng co giãn cầu theo giá rất nhạy cảm (56% khách chỉ đồng ý mức giá 40.000 – 50.000 đồng/vé).
  • Đánh giá cụ thể tiến độ chuyển đổi thể chế kinh tế rừng: ghi nhận thực trạng quản lý 4 hợp đồng liên doanh liên kết và 3 mô hình thuê môi trường rừng thí điểm theo Nghị định 48/2007/NĐ-CP, xác định việc áp dụng đơn giá cho thuê 2% doanh thu theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg là bước đi cần thiết để chuẩn hóa nguồn thu nộp về đơn vị.

Về mặt đóng góp:

  • Đóng góp khoa học: Hệ thống hóa khung lý thuyết và phương pháp đánh giá nguồn thu dịch vụ du lịch sinh thái áp dụng cho đơn vị sự nghiệp rừng đặc dụng tại Việt Nam, kết hợp phân tích chuỗi số liệu tài chính thứ cấp với điều tra xã hội học về hành vi chi tiêu của du khách.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở thực chứng giúp Ban quản lý VQG Ba Vì nhìn nhận rõ những bất cập trong quản trị nhân sự (73,56% lao động có trình độ đại học trở lên nhưng thiếu nhân sự nghiệp vụ du lịch) và hạ tầng dịch vụ manh mún; đề xuất lộ trình chuyển đổi hợp đồng khai thác môi trường rừng nhằm giảm thiểu rủi ro thất thoát ngân sách và bảo vệ cảnh quan tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự nhận diện và bộc lộ các hạn chế:

  • Thời gian khảo sát thực địa bằng phiếu hỏi chỉ tập trung vào tháng 3 và tháng 4 năm 2018, chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ mùa vụ du lịch quanh năm tại Ba Vì (đặc biệt là mùa hoa dã quỳ nở vào cuối năm khi lượng khách tăng đột biến).
  • Nghiên cứu chưa thực hiện được các mô hình kinh tế lượng phức tạp để lượng hóa giá trị tổng thể của dịch vụ hệ sinh thái (chưa đo lường giá trị phi thị trường qua phương pháp chi phí du lịch TCM hoặc mô hình định giá hưởng thụ).
  • Nguồn số liệu về chi phí sử dụng vốn và phân tích cấu trúc chi tiết các khoản chi thường xuyên/không thường xuyên cho từng tuyến điểm du lịch chưa được cung cấp đầy đủ.

Hướng nghiên cứu tiếp được đề xuất:

  • Mở rộng điều tra toàn diện dịch vụ hệ sinh thái - văn hóa của VQG Ba Vì qua các mùa trong năm với cỡ mẫu du khách lớn hơn.
  • Nghiên cứu sâu về sức chứa sinh thái (carrying capacity) và ngưỡng chịu tải môi trường của các tuyến điểm cốt 400 m, 800 m, 1.100 m để làm căn cứ điều tiết lượng khách vào ngày cao điểm cuối tuần.
  • Xây dựng đề án hoàn thiện cơ chế tài chính bền vững (TCBV) khi chuyển đổi 100% các diện tích liên kết du lịch sang hình thức thuê môi trường rừng có sự giám sát của các bên liên quan.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên, Quản lý tài nguyên rừng, Kinh tế môi trường, Quản lý du lịch và Quản trị kinh doanh dịch vụ du lịch: Bản khóa luận cung cấp cấu trúc mẫu chuẩn về phương pháp tiếp cận đề tài kinh tế lâm nghiệp tại một địa bàn sự nghiệp công lập.
  • Cán bộ quản lý tại các Ban quản lý Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước: Nghiên cứu cung cấp tài liệu thực tiễn hữu ích về bài toán chuyển đổi mô hình từ liên doanh, liên kết sang cho thuê môi trường rừng theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, cách thức xử lý xung đột giữa chỉ tiêu kinh doanh và nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên rừng.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là hệ thống số liệu tổng hợp doanh thu chi tiết giai đoạn 2015 – 2017 (Bảng 3.2, 3.3, 3.4), bảng cơ cấu nhân lực (Bảng 2.1) và bộ biểu đồ phân tích 7 chỉ báo xã hội học - kinh tế của 200 du khách (Hình 3.8 đến 3.14).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu nhân sự của VQG Ba Vì tính đến tháng 12/2017 có đặc điểm gì nổi bật?
Tổng số nhân lực của Vườn là 87 người (64 người thuộc biên chế và 23 lao động hợp đồng). Về cơ cấu giới tính, lao động nam chiếm áp đảo với 75,86% (66 người) do yêu cầu công việc tuần tra quản lý bảo vệ rừng. Về trình độ học vấn, tỷ lệ có trình độ đại học và trên đại học đạt tới 86,20% (gồm 1 Tiến sĩ, 10 Thạc sĩ và 61 Đại học). Tuy nhiên, hầu hết cán bộ đều tốt nghiệp ngành lâm nghiệp hoặc QLBVR, thiếu hụt nghiêm trọng nhân sự được đào tạo bài bản về nghiệp vụ du lịch và am hiểu lịch sử văn hóa tâm linh.

2. Tại thời điểm nghiên cứu, VQG Ba Vì đang áp dụng những hình thức tổ chức kinh doanh du lịch nào?
Vườn áp dụng đồng thời 3 hình thức: (1) Tự tổ chức kinh doanh thông qua Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ (bán vé vào cổng, trông xe, lưu trú tại cốt 400 m); (2) Cho thuê môi trường rừng thí điểm từ năm 2003 với Công ty CP Hóa dầu Quân đội (200 ha), Công ty Thác Đa (71 ha) và Công ty Thiên Sơn; (3) Hợp đồng liên kết kinh doanh DLST với 4 doanh nghiệp (Công ty TNHH Phát triển công nghệ 56,05 ha; Công ty CP Đầu tư Du lịch PICO Việt Nam 37,5 ha; Công ty TNHH Quảng Long 1,9 ha; Công ty CP và Đầu tư Ba Vì 38,5 ha) đang thực hiện lộ trình chuyển sang thuê môi trường rừng.

3. Đặc điểm thu nhập và mức sẵn lòng chi trả vé vào cổng của 200 khách du lịch được khảo sát như thế nào?
Kết quả điều tra thực địa trong tháng 3 và tháng 4/2018 cho thấy 55% du khách có mức thu nhập bình quân dưới 2 triệu đồng/tháng (chủ yếu là học sinh, sinh viên), trong khi nhóm thu nhập trên 10 triệu đồng chỉ chiếm 15%. Về mức độ sẵn sàng chi trả cho vé tham quan, tỷ lệ du khách đồng thuận ở mức 40.000 đồng/vé là cao nhất (30%), tiếp đến là mức 50.000 đồng/vé (26%), cho thấy biên độ sẵn lòng chi trả tập trung ở phân khúc vé trung bình thấp.

4. Vì sao doanh thu từ DLST của VQG Ba Vì tăng trưởng nhưng nguồn tài chính vẫn chưa được đánh giá là bền vững?
Mặc dù doanh thu dịch vụ tăng bình quân 144,30%/năm trong giai đoạn 2015 – 2017 (năm 2017 đạt trên 20,3 tỷ đồng), nguồn tài chính vẫn tiềm ẩn rủi ro do cơ cấu nguồn thu mất cân đối nghiêm trọng: tiền bán vé thắng cảnh chiếm tới gần 90% tổng thu. Các nguồn thu mang tính dịch vụ giá trị gia tăng như lưu trú, ẩm thực, vận chuyển và tiền cho thuê môi trường rừng đóng góp tỷ lệ rất thấp; thêm vào đó 79% du khách chỉ tham quan trong ngày nên mức chi tiêu ngoài vé vào cổng tại Vườn là không đáng kể.

5. Hiện tượng thời tiết cực đoan nào được tác giả ghi nhận tại VQG Ba Vì có liên quan đến biến đổi khí hậu?
Trong phần phân tích ma trận SWOT (mục Thách thức), tác giả ghi nhận vào năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử khu vực rừng núi Ba Vì đã xuất hiện hiện tượng tuyết rơi vào mùa đông, phản ánh tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái tự nhiên của Vườn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã phản ánh chân thực bức tranh thực trạng huy động nguồn lực tài chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Ba Vì giai đoạn 2015 – 2018. Thông qua chuỗi dữ liệu quản lý kết hợp khảo sát thực địa 200 du khách, công trình chỉ rõ sự phụ thuộc đơn điệu của doanh thu vào nguồn bán vé vào cổng và những hạn chế về hạ tầng cũng như năng lực chuyên môn du lịch của đội ngũ cán bộ lâm nghiệp. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào kiện toàn cơ cấu nhân sự, đẩy nhanh việc chuyển đổi thể chế cho thuê môi trường rừng và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp Vườn hướng tới mục tiêu tài chính bền vững phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học.