Chương 1. Du kí viết về miền Trung trong bức tranh về thể tài du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX Chương 2. Đặc điểm nội dung của du kí viết về miền Trung nửa đầu thế kỉ XX Chương 3. Đặc điểm nghệ thuật của du kí viết về miền Trung nửa đầu thế kỉ XX Chƣơng 1 DU KÝ VIẾT VỀ MIỀN TRUNG TRONG BỨC TRANH TOÀN CẢNH 9 VỀ THỂ TÀI DU KÝ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX 1.
Khái lƣợc về du kí Việt Nam đầu thế kỉ XX 1. Quan niệm về du kí Trong các công trình lí luận văn học, từ điển văn học hiện đại, các nhà nghiên cứu đồng thuận quan điểm ký thuộc loại hình tác phẩm tự sự. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ký được hiểu là “một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tùy bút,…” [14, 137]. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến định nghĩa: “Ký là một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều “thể” hoặc “tiểu loại”: Bút ký, hồi ký, du ký, ký chính luận, phóng sự, tùy bút, tân văn, tạp văn, tiểu luận (ét - xe” [20, 14].
Giáo trình Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên cũng đưa ra quan điểm tương tự và nhấn mạnh sự đa dạng trong bút pháp miêu tả và phản ánh cuộc sống của ký mà du ký là một phần trong đó. Là một tiểu loại, du ký mang những đặc trưng của ký mà trước hết là đặc trưng về đối tượng phản ánh: người thật, việc thật. Từ rất sớm, trên tờ báo Phụ nữ tân văn (1929), tòa soạn báo viết lời giới thiệu cho du ký Sang Tây - Mười ngày ở Pháp của Phạm Vân Anh có giới thuyết về du ký, nhấn mạnh sức hấp dẫn của du ký là “tả những sự thiệt” và đọc du ký tức là “học lịch sử, học địa lý, học mĩ thuật, học phong tục, mình ngồi tựa trước bên đèn mà hình như thấy rõ những non sông…”. Theo các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học thì du ký gắn với hoạt động đặc thù là du lịch, thưởng ngoạn, là thể văn đa dạng về hình thức: ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng…, phong phú về nội dung: thông tin, tri thức, cảm xúc… Nhóm tác giả này đưa ra định nghĩa: “Du ký, một thể loại 10 văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít có người biết đến” [14, 108].
Nhóm tác giả Trần đình Sử, La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm trong cuốn Lí luận văn học cũng chú ý đến đối tượng của du ký: “thể loại ghi chép về vẻ kỳ thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những cảm nhận và suy tưởng của con người trong những chuyến du ngoạn, du lịch” [83, 382]. Những định nghĩa về du ký đều chỉ rõ nội dung, đối tượng phản ánh đặc thù của du ký là cảnh vật, con người, cuộc sống mà nhà văn đã trực tiếp quan sát, trải nghiệm, cảm nhận qua những chuyến đi, khẳng định tính chất phi hư cấu trong nội dung phản ánh của du ký. Về nghệ thuật, du ký có lối viết khá linh hoạt, tự do, là “lối chơi độc tấu” của từng cá nhân người viết.Trong các sáng tác du ký có hiện tượng dung hợp thể loại, đan xen nhiều phương thức biểu đạt khác nhau. Người viết du ký luôn cần huy động đồng thời tư duy nghệ thuật và tư duy nghiên cứu.
Chính vì thế, du ký vừa mang đến những tri thức xác thực về những vùng miền nơi ký giả đã đi qua vừa đem lại những cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc. Đọc du ký, độc giả có thể lĩnh hội được những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch sử, địa lý, văn hóa… với độ xác tín cao. Đồng thời, những kiến thức đó cũng là những hình tượng nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn đặc biệt quan tâm đến khả năng mở rộng phạm vi ảnh hưởng cũng như giá trị của du ký ra ngoài ranh giới văn học.
Ông nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của du ký đối với nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống: “Một tác phẩm du ký không đơn thuần là một tác phẩm văn chương mà còn dung chứa trong đó nhiều yếu tố lịch sử, địa lý, văn hóa, giáo dục và đôi khi còn phản ánh cả phương diện chính trị nữa. Nói cách khác, du ký cùng với bút ký, hồi ký, nhật ký, ký sự, phóng sự, tùy bút… nằm ở 11 phần giao của văn học và ngoài văn học” [69, 5]. Duy danh du ký với tư cách là một thể tài, Nguyễn Hữu Sơn khẳng định: “Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác bằng thơ, phú, tụng và các bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, ghi chép, khảo cứu, hồi ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, sinh thái, kiến trúc, mĩ thuật, thậm chí có thể liên quan tới nhiều phương diện của xã hội học, văn hóa học, khảo cổ học, dân tộc học và văn hóa - văn nghệ dân gian khác nữa… do đó đã xuất hiện thực tế có tác phẩm nằm ở trung tâm thể tài du ký, và nhiều trang viết khác lại nằm ở đường biên hoặc hỗn hợp pha tạp với những sắc độ đậm nhạt khác nhau, cả về đối tượng, phạm vi đề tài, nội dung hình thức lẫn phong cách thể loại” [69, 22]. Quan điểm này của Nguyễn Hữu Sơn có điểm gặp gỡ với giới phê bình văn học các nước trên thế giới cho rằng du ký còn lớn hơn cả thể loại, tức là nó thuộc loại hình văn học mà chưa đựng trong nó các hình thức thể loại khác nhau (ghi chép, tiểu luận, nhật ký, thơ, phú…).
Ông căn cứ vào những nét tiêu biểu, nổi bật của nội dung để khu biệt du ký với các thể tài, thể loại văn học khác. Đối tượng miêu tả còn là tiêu chí để các học giả phân loại du ký. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, du ký được chia làm hai loại, trong đó có dạng đặc biệt: “Dạng đặc biệt của du ký là phát huy cái chất ghi chép về miền xa lạ của nó, về các xứ sở tưởng tượng, có tính chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học… Dạng ký khác đậm đà phong vị phương Đông là ghi chép cảm tưởng, nhận xét về những nơi danh lam thắng cảnh của đất nước…” [14, 108]. Như vậy, trong định nghĩa đã nêu trên, mặc dù các tác giả đã khẳng định tính chất phi hư cấu của du ký nhưng vẫn thừa nhận dạng đặc biệt của du ký là ghi chép về các xứ sở tưởng tượng, có tính chất không tưởng hay viễn tưởng.
Nguyễn Hữu Sơn nghiên cứu du ký từ trung đại đến nửa đầu thế kỷ XX, từ phương diện chủ thể tác giả, đối tượng và phạm vi phản ánh của đối 12 tượng, không gian, thời gian… ông chia du ký thành các loại: du ký mang tính chất quan phương, công vụ; du ký viễn du; du ký thiên về khảo cứu danh nhân lịch sử, truyền thuyết và sự tích liên quan đến một địa điểm cụ thể; du ký hướng tới khảo sát, giới thiệu một vùng văn hóa rộng lớn; du ký mà yếu tố vị nghệ thuật chiếm phần quan trọng… Du ký viết về các địa danh khác nhau cũng là một mảng phân loại vì qua thực tế khảo sát, chúng tôi thấy trong du ký nửa đầu thế kỷ XX có những mảng địa lý - văn hóa khác nhau được các nhà văn quan tâm, đi và viết. Nghiên cứu du ký từ điểm nhìn địa - văn hóa là một cách tiếp cận nhằm mở rộng ý nghĩa, giá trị và phạm vi ảnh hưởng của du ký. Cơ sở văn hóa xã hội của sự ra đời và phát triển của du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX 1. Ý thức sáng tác của nhà văn và nhu cầu của người tiếp nhận Đầu thế kỷ XX, những chuyển biến lớn lao của lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam do ảnh hưởng của cuộc khai thuộc địa của Pháp, sự giao lưu Đông - Tây đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa nước nhà, tạo nên một nền văn học mới với đội ngũ tác giả mới, một lớp công chúng với thị hiếu thẩm mĩ mới.
Văn học đầu thế kỷ XX có thế hệ nhà văn của riêng mình: đó là những trí thức thông thuộc cả Hán học lẫn Tây học. Công cuộc hiện đại hóa văn học đang được tiến hành từng bước bởi đội ngũ nhà văn nói trên. Dưới sự ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây, các tác giả du ký là những người trực tiếp thực hiện chặng đường đầu của quá trình hiện đại hóa văn chương. Tư tưởng, lối viết của họ như một tất yếu, chính là kết quả của sự tiếp biến, lai ghép giữa truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây.
Những cây bút viết du ký đầu thế kỷ XX xuất hiện với nhiều tư cách khác nhau. Họ có thể là nhà văn, nhà báo, là thầy giáo, cũng có thể là nhà 13 buôn hay những người khách du lịch… thích xê dịch và có hứng thú ghi chép lại những gì mình trải nghiệm bằng văn chương. Trong bối cảnh thời đại, họ viết trong tâm thế của một người dân mất nước và ý thức rất rõ mục đích và giá trị của những điều mình viết ra. Điều gì đã thôi thúc họ đi, xem và viết? Hẳn không phải chỉ đơn thuần là thú phiêu lưu để thỏa mãn sở thích cá nhân.
Viết về quê hương mình, đất nước mình, về những nơi xa lạ ít người có thể đặt chân đến như một sự san sẻ những trải nghiệm và nhận thức cho đồng bào, để đồng bào hiểu rõ thêm về đất nước mình, mở mang tri thức. Lòng yêu Tổ quốc, niềm tự hào dân tộc cũng được bồi dưỡng từ đây. Những áng văn du ký, dù không trực diện nhưng cũng chính là một hình thức đấu tranh với thực dân trên cả hai lĩnh vực du lịch và văn học: một mặt là chủ động đi và khám phá trên tư cách là chủ nhân thực sự của những danh lam thắng cảnh, những kỳ quan của đất nước…, mặt khác là viết về chính quê hương mình, đất nước mình, không để “Kẻ khác” tùy tiện áp đặt tư tưởng, quan niệm về đất đai, sông núi và cuộc sống của con người Việt Nam.