mở đầu bằng câu: “Nên tôi danh sĩ Đăng Đàn…”. Ông Trần Quang Thọ, nhạc công cung đình vào Nam lập nghiệp, khai sinh dòng tộc có bề dày truyền thống đờn ca Tài tử. Ông Trần Quang Diệm (1853 – 1927) là bậc thầy đờn tỳ bà. Thế hệ nhạc quan sau phong trào Cần Vương vào Nam dạy đờn phải kể đến nhạc sư Nguyễn Quang Đại (tục gọi là Ba Đợi).
Trước tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về thân thế và sự nghiệp của nhạc sư, chỉ biết ông sống cùng thời với ông Trần Quang Diệm. Ông đã đào tạo nhiều nghệ nhân tài danh cho giới Nhạc lễ và đờn ca Tài tử ở khắp các tỉnh miền Đông, ở Long An, Bến Tre và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác. Tại xóm Đakao, xóm Hàng Dừa (trước cổng Lăng Ông Bà Chiểu, nay thuộc quận Bình Thạnh), ông đào tạo các nhạc sĩ lừng danh lúc bấy giờ là Sáu Thới và Tám Hạnh. Ông Sáu Thới tiếp tục truyền dạy cho các học trò của mình là Giáo Thinh (tức Nguyễn Văn Thinh, từng là trưởng khoa Âm nhạc dân tộc trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn), hay như Tư Nghị, Năm Cần… Tại Cần Đước, Cần Giuộc (Long An).
Học trò của ông có thể kể đến nhạc Láo, nhạc Thời, Hai Tò Le, Sáu Thoàn, Chín Chiêu, Năm Tịnh, Sáu Giỏi, Bảy Lung, Xã Năm, Hai Bầu, Năm Khiết, Năm Xem, Ba Đống, Năm Quýnh, Mười Hai Dương. Tại Đồng Nai, có các môn đệ lừng danh giới nhạc lễ như Văn Kiên (kèn), Võ Phải (trống). Ở Sông Bé (nay là Bình Dương) 14 có Sư Dung (dạy đờn tỳ bà cho Giáo Thinh), Út Lăng, Út Búng. Ông là thầy của những bậc thầy đờn ca Tài tử Nam Bộ.
Nhạc sư Ba Đợi là người đã hệ thống 20 bài bản tổ, sáng tác nhiều bài bản khác như bộ Ngũ Châu miền Đông, sáng tác Bát Ngự nghinh giá vua Thành Thái lúc Người vào Nam. Ông mất tại Sài Gòn, đến nay thì mồ mả xiêu lạc không còn dấu tích. Sau người dân xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, Long An, nơi ông từng dừng chân đã rước linh vị ông về thờ phụng, hằng năm đều tổ chức lễ giỗ long trọng. Có người xem đó là ngày Giỗ tổ đờn ca Tài tử.
Ông được tôn vinh là Đức nghệ nhân tiền phong nhạc Lễ, nhạc Tài tử. Thành phần tiếp thu và truyền dạy nhạc ban đầu không phải chỉ có các trí thức gốc miền Trung mà còn có sự đóng góp rất sớm của trí thức nông thôn Nam Bộ, đó là trường hợp Phan Hiển Đạo. Phan Hiển Đạo (1830 – 1872) là người làng Vĩnh Kim Đông (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), dưới triều vua Tự Đức đã đậu tiến sĩ. Trong thời gian lưu học ở Huế, ông đã tiếp thu âm nhạc nơi đây, am tường nhiều nhạc cụ dân tộc.
Sau khi về làm quan tại quê nhà, ông đã truyền dạy cho nhiều học trò, đặc biệt trong cách chơi đờn cò và thổi sáo. Theo một số tư liệu, trong số những người từng thọ học thầy Phan Hiển Đạo có ông Lê Văn Huệ và Nguyễn Tri Túc, hai ông đã tiếp tục truyền dạy cho thế hệ con cháu mình. Nếu miền Đông Nam Bộ có nhạc sư Nguyễn Quang Đại làm thủ lĩnh thì giới Tài tử Tây Nam Bộ lại chịu ảnh hưởng của nhạc sư Lê Tài Khị (1862 – 1924), tục gọi là ông Hai Khị, hay Nhạc Khị, vì ông chuyên về Nhạc lễ. Ông sinh trưởng trong gia đình nghệ thuật ở Bạc Liêu, cha là ông Phó tổng Lê Văn An, tức ông Bầu An có gánh hát bội nổi tiếng miền Tây.
Ngoài chuyên Nhạc lễ, ông cũng chơi đờn theo phong cách Tài tử. Theo cụ Vương Hồng Sển trong Hồi kí 50 năm mê hát, người đương thời biết đến Nhạc Khị như một tài năng đặc biệt khi một mình chơi trọn bộ cổ nhạc gồm nhiều nhạc cụ với tiết tấu nhịp nhàng như trong một dàn nhạc đông người. Công lao to lớn của ông đối với cổ nhạc miền Nam là đã đào tạo nên những nhạc sư tài danh như Bảy Kiên, Hai Húa, Ba Lất, Tám Bằng và hai nhạc sĩ 15 sáng tác những bài bản mới như nhạc sĩ Trần Văn Trung, tức Mộng Vân, và nhạc sĩ Cao Văn Lầu, cha đẻ của bản Dạ cổ hoài lang. Ông được tôn vinh là Hậu tổ Tài tử - Cải lương.
Tài tử miền Tây còn có ông Trần Quang Quờn. Ông làm Kinh Lịch ở tòa án Vĩnh Long, nên tục gọi là Thầy Ký Quờn, hay Kinh Lịch Quờn. Ngoài việc ông rất thông thạo đờn Tài tử, ông còn đặt lời ca rất đúng thanh âm, dễ ăn với chữ đờn, cho phù hợp với ngôn ngữ Nam Bộ. Ông chế tạo ra nhiều nhạc cụ mới để thay cho các nhạc cụ cổ truyền mà ông đặt tên là Tiểu ba tiêu, Đại ba tiêu, Trùng đồng, Song thương.
Hiện nay các nhạc cụ này không còn tồn tại, qua mô tả của những người từng quen biết ông thì các loại nhạc cụ này dựa vào nhạc cụ cổ truyền, phức tạp hơn. Việc sáng tạo của ông tuy không có tính hiệu quả trong ứng dụng thực tiễn, nhưng đã cho thấy tinh thần cách tân, cải biến cao. Trên là những bậc thầy có công gầy dựng đờn ca Tài tử buổi đầu, gồm các nhạc quan triều đình từ miền Trung vào và các trí thức Nam Bộ ra học tập tại Huế. Trong đó có nhạc sư Nguyễn Quang Đại và Lê Tài Khị là hai người đứng đầu giới tài tử miền Đông và miền Tây Nam Bộ.
Các thế hệ sau tiếp bước người đi trước, không ngừng cải biến, hoàn thiện đờn ca Tài tử về bài bản, cũng như kỹ thuật biểu diễn. Tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) là một trong những cái nôi của đờn ca Tài tử, nơi khai sinh hai dòng họ Trần và Nguyễn nổi tiếng. Người đầu tiên của dòng họ Trần ở làng Vĩnh Kim là nhạc công Trần Quang Thọ như đã nói ở trên. Thế hệ tiếp theo là Trần Quang Diệm, nổi tiếng với ngón đờn tỳ bà.
Con ông là Trần Văn Chiều (tự Bảy Triều). Nhạc sĩ Bảy Triều biết chơi nhiều loại nhạc cụ. Với đờn độc huyền, ông bắt chước đào hát bội “thán”. Với đờn kìm, ông đã sáng chế ra “dây Tố Lan” mà các nghệ sĩ tài tử miền Nam còn dùng để đờn hai bản Văn Thiên Tường và Tứ Đại Oán.
Ở làng Đông Hòa có ông Nguyễn Tri Túc chuyên về đờn kìm và đờn cò. Ông từng học đờn với nhạc sư Ba Đợi. Ông ít khi hòa đờn mà chủ yếu đào tạo cho các con trai. Các ông Nguyễn Tri Lạc, Nguyễn Tri Khương, Nguyễn Tri Ân đều là 16 những tay chơi đàn điêu luyện.
Ông Nguyễn Tri Khương còn sáng tác cho sân khấu Cải lương sau này vở Giọt lệ chung tình. Tại làng Cái Thia tỉnh Mỹ Tho còn có một nhạc sĩ tên Nguyễn Tống Triều (tức Tư Triều) góp phần quan trọng vào sự phát triển của đờn ca Tài tử. Ông đờn kìm xuất sắc, ông Diệp Văn Cương (thân phụ của ông Diệp Văn Kỳ, chủ nhiệm tờ báo Thần Chung nổi tiếng thời bấy giờ) đã ngợi khen: “Sau khi nghe tiếng đờn kìm của Tư Triều và tiếng đờn tỳ của ông Năm Diệm rồi thì tôi không còn muốn nghe bất kỳ tiếng đờn của ai khác” [38, 33]. Ở đây còn cho thấy sự giao lưu hòa đờn giữa các nghệ nhân trong địa phương với nhau cùng sự thưởng thức tri âm đồng điệu.
Về sau, cụ Vương Hồng Sển, một người cũng rất sành về đờn ca Tài tử đã đánh giá rằng tiếng đờn của Bảy Triều trội hơn so với Tư Triều. Nhạc sĩ Tư Triều qui tụ một nhóm đờn Tài tử rất được hâm mộ với nhiều nghệ sĩ tài hoa như Chín Quán đờn độc huyền, Mười Lý thổi tiêu, ông Bảy Vô đờn cò, với giọng hát của cô Hai Nhiễu (con ông Tư Triều) và cô Ba Đắc. - Nhóm tài tử miền Đông và nhóm tài tử miền Tây: Trong quá trình phát triển của mình, phong trào đờn ca Tài tử có sự xuất hiện hai nhóm nhạc ở hai miền của Nam Bộ, cùng tranh tài, đồng thời học hỏi lẫn nhau. Nhóm nhạc miền Đông do nhạc sư Ba Đợi chủ xướng.
Nhóm nhạc miền Tây do Nhạc Khị đứng đầu. Hai nhóm cùng thống nhất về bài bản nhạc tài tử gồm 20 bài bản tổ, nhưng mỗi bên cũng có sáng tác những bài bản riêng mình (bộ Ngũ Châu miền Đông và bộ Tứ Bửu miền Tây). Bộ Ngũ Châu, hay “năm hạt châu của miền Đông” gồm các bài: Kim tiền bản, Ngự giá, Hồ lan, Vạn liên, Song phi hồ điệp. Bộ Tứ Bửu, hàm ý là bốn báu vật của quê nhà, gồm các bản: Minh Hoàng thưởng nguyệt, Ngự giá đăng lâu, Phò mã giao duyên, Ái tử kê.
Theo TS Mai Mỹ Duyên thì sự khác nhau của hai nhóm nằm ở tốc độ chơi nhạc. Nhóm nhạc miền Đông thường chơi tiết tấu nhanh, nhịp khúc so với miền Tây. Cách diễn tấu miền Đông gần với Ca Huế hơn. Càng về phương Nam thì các tài tử miền Tây có phần phóng khoáng hơn về tiết tấu.
Cũng theo TS Mai Mỹ Duyên thì điều kiện địa lí tự nhiên là yếu tố tạo ra sự khác nhau trong cùng một loại hình nghệ thuật ở mỗi vùng 17 miền. Miền Đông, với địa hình đồi dốc, sông ngòi chảy mạnh, do vậy mà nhịp sống của cư dân nơi đây có tính chất nhanh, gấp gáp. Trong khi đó, miền Tây Nam Bộ nhiều sông ngòi, địa hình bằng phẳng, mùa nông nhàn kéo dài, con người sống êm đềm, nhàn nhã, ít gấp gáp hơn. Nhịp sinh hoạt cũng ảnh hưởng tới nhịp điệu âm nhạc, nghệ thuật.
Hai nhóm Tài tử này đã hình thành hai khuynh hướng tồn tại độc lập, làm phong phú đời sống văn nghệ nói chung cũng như loại hình đờn ca Tài tử nói riêng. Từ khi âm nhạc miền Trung du nhập vào Nam Bộ đã có những biến đổi to lớn, trên phương diện biên chế dàn nhạc và tính chất âm nhạc. Về dàn nhạc, từ chỗ gồm nhiều cây đờn đến chỗ chỉ cần một cây đờn cũng có thể chơi được. Tính chất âm nhạc (khí nhạc) thay đổi nhiều, mục đích nhằm phù hợp với giọng hát, thanh điệu và ngôn ngữ của người Nam Bộ.
Điệu nhạc càng tiến về Nam càng buồn, da diết. Phải chăng là do tâm thức người Việt ta, những người rời quê hương, trở thành dân tứ chiếng. Vào vùng đất mới, họ phải đối mặt với biết bao khó khăn, gian khổ. Hay là do những người thầy đầu tiên của họ mang trong lòng tâm sự của những người yêu nước, phò vua giúp nước mà rốt cuộc bị bỏ rơi trong phong trào Cần Vương?