CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH TỒN TẠI CỦA DI TÍCH 1.1 - Vài nét về địa danh và cư dân nơi di tích tồn tại.1 - Vị trí địa lý. Làng cổ Triều Khúc nằm giữa hai triền sông Tô và sông Nhuệ, cho đến nay vẫn mang những sắc thái đậm nét của một làng cổ ven đô với mái đình, mái chùa, cây đa, giếng nước. Đình Triều Khúc tên tự là Miếu Đường Lâm, toạ lạc trên mảnh đất Triều Khúc xã Tân Triều. Triều Khúc là một trong 26 xã của huyện Thanh Trì.
Xã Triều Khúc gồm có 2 thôn Yên Xá và Triều Khúc, nguyên trước cách mạng tháng 8 - 1945 là hai xã Tổng Phượng - Thanh Oai, Huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông sau này thuộc huyện Thanh Trì - Hà Đông.1 Triều Khúc nằm ở phía Tây Nam, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10km. Phía Tây giáp với đường quốc lộ số 6 (bên kia là phường Nhân Chính – quận Thanh Xuân và xã Trung Văn – huyện Từ Liêm - Hà Nội) Phía Tây Nam giáp Văn Quán - Hạ Trì - thị xã Hà Đông. Phía Bắc giáp với phường Thanh Xuân Nam và phường Hạ Đình – quận Thanh Xuân. Phía Đông giáp xã Đại Kim – Thanh Liệt – Thanh Trì.
Triều Khúc xưa vốn có tên là Trang Khúc Giang. Tục truyền, trước đây cư dân sinh sống thành từng cụm ở quanh khu vực giếng Liên (nay là trường Đại học An ninh nhân dân Hà Nội). Giếng Liên là giếng nước ăn của dân Trang Khúc Giang, chứng tích của một khu cư dân 2. Trước đây khu vực này vốn là nơi uốn khúc của dòng sông Nhuệ nên dân cư ở đây đặt tên là Trang Khúc Giang.
Về tên gọi “Triều Khúc” có nghĩa là: (do thủy triều lên xuống ở khúc sông này) nên gọi là Triều Khúc. Theo cuốn sách “Thăng Long - Hà Nội 10 thế kỷ đô thị hoá” thì vào khoảng 2.700 năm cách ngày nay, biển còn nằm sát khu vực 11+ 2 - Triều Khúc những chặng đường lịch sử Nxb Hà Nội - 2000 2 Thường Tín bây giờ. Qua những biến thiên của lịch sử Trang Khúc Giang từ giếng Liên chuyển về vị trí làng Triều Khúc hiện nay có thể và hai lý do: + Trang Khúc Giang – Giếng Liên hẹp, ruộng ít lên phải chuyển vệ vùng đất cao rộng hơn, sau này có tên là Gò Cây Táo. Đất ở đây cao ráo, đồng ruộng dài tốt tươi, tiện cho việc khai hoang trồng trọt.
+ Ở giếng Liên gần đường cái quan giặc dã luôn quấy phá nên dân Trang Khúc Giang – Giếng Liên di dời đến nơi ở hiện nay. Cách nhìn xa trông rộng ấy của tổ tiên làng Triều Khúc về sau được thủ lĩnh nghĩa quân Phùng Hưng chọn làm nơi đặt đại bản doanh chuẩn bị cho trận đánh giải phóng thành Tống Bình khả ách đô hộ nhà Đường vào nửa sau thế kỷ VIII mà sử sách đã nhắc đến (766 – 791)3. Làng Triều Khúc ngoài tên thuở xưa là Trang Khúc Giang còn có tên nôm là Đơ Đồng vì lúc ấy dân làng sống chính bằng nghề nông nghiệp, sau khi có nghề dệt qoai thao mới gọi là Đơ Thao, cạnh làng Triều Khúc có làng Yên Xá tên nôm là Đơ Bùi (chưa cón tài liệu nào ghi chép về việc đặt tên này). Song việc ghép tên Đơ trước tên của hai làng là do Hà Đông xưa có thời mang tên tỉnh Đơ, hai làng này gần tỉnh lỵ Đơ nên gọi Đơ Thao, Đơ Bùi.
Toàn bộ đất đai của làng Triều Khúc và Yên Xã xưa kia cũng giống như các làng xã châu thổ sông Hồng trước thế kỷ XII khi nhà Lý chưa đắp đê Cơ Xá và có kế hoạch bồi trúc đê, chịu ảnh hưởng của lũ sông Hồng. Chính lũ sông Hông đã đưa phù sa bồi đắp lên vườn ruộng tươi tốt của Triều Khúc và Yên Xã dấu tích của phù sa và dòng chảy còn tạo nên đầm hồ, gò đống do đó tạo nên cảnh quản thiên nhiên hữu tình sông Tô, sông Nhuệ, ao chùa Triều Khúc, Gò Cây Táo, và mỗi Gò đều gắn với những sự tích lịch sử văn hoá ở địa phương như : đống Ngũ Nhạc ,đống Nghiên, đống Bút, gò Quy (Triều Khúc); gò Mả Yển, đống Vua Ngự, đống Tầm Cấp (Yên Xá)4. 3 -Triều Khúc những chặng đường lịch sử NXB Hà Nội - 2000 4 -Triều Khúc những chặng đường lịch sử NXB Hà Nội - 2000 Theo “Lịch triều hiến chương loại chí ” của Phan Huy Chú thì vào triều Minh Mệnh 1820 – 1840) xã Triều Khúc thuộc tổng Thượng Thanh Oai, xã Yên Xá thuộc tổng Trung Thanh Oai đều nằm trong huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hoà (trước đó gọi là phủ Ứng Thiên) Trấn Nam Sơn Thượng. Sau cách mạng tháng 8 - 1945, Triều Khúc là xã lớn, đông dân nên vẫn là một xã, còn Yên Xá là làng nhỏ, nên đã nhập với làng Xa La, Phùng Khoang lập thành xã mới, tên là xã Duy Tân (tên một vị Vua triều Nguyễn có tư tưởng bài Pháp).
Cả hai xã này đều thuộc huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông. Từ tháng 5 – 1948, chính phủ cách mạng nhập Hà Nội và Hà Đông thành tỉnh Lưỡng Hà, nhập 3 huyện Thanh Oai, Thường Tín, Thanh Trì thành huyện Liên Nam và ba huyện Quảng Oai, Hoài Đức, Từ Liêm thành huyện Liên Bắc. Tháng 5 – 1949, thị xã Hà Đông được tái lập gồm nội thị và 4 xã lớn. Xã Tân Triều được thành lập trên cơ sở xác nhập hai xã cũ là Tân Triều và Duy Tân.
Từ năm 1955 đến cải cách ruộng đất 1956, Tân Triều vẫn là một trong bốn xã thuộc ngoại thị, thị xã Hà Đông. Sau cải cách ruộng đất, Tân Triều gồm cả Yên Phúc, Xa La thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đến tháng 4 – 1961, huyện thanh Trì thuộc về Hà Nội, xã Tân Triều vấn thuộc Thanh Trì nhưng cắt hai thôn Yên Phúc và Xa La về thị xã Hà Đông. Làng Triều Khúc nằm ở trung tâm xã và được hội tụ bởi 5 xóm: xóm Đình, xóm Cầu, xóm Án, xóm Chùa, xóm Lẻ.
Bản thân địa danh Trang Khúc Giang đã nói lên đây là vùng đất cổ có từ đời vua Hùng thứ VI. Để chứng minh cho ngôi làng cổ này, ở làng Triều Khúc còn có di chỉ Gò Cây Táo và khu mộ cổ Giếng Liên … Cả hai dấu tích “Gò cây táo” và “Giếng Liên” đều nằm ngoài khu vực cư dân làng Triều Khúc hiện nay. Sở dĩ gọi là Gò Cây Táo vì đây là khu đất cao, có lẽ người xưa đã từng trồng táo, nên từ lâu dân làng gọi khu đất này là Gò Cây Táo. còn Giếng Liên tương truyền nơi đây xưa kia có nhiều ao hồ xen bên cạnh giếng, vì thế gọi là Giếng Liên.
“Liên” có nghĩa là Sen5. 5 -Triều Khúc những chặng đường lịch sử. NXB Hà Nội - 2000 Theo sách Hà Nội nghìn xưa do Sở Văn Hoá- Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1975, sau 18 năm khai quật kể từ sau năm 1954, các nhà Khảo cổ học đã tìm được dấu tích cuộc sống xưa nhất của người Việt thời dựng nước trên đất Hà Nội. Sách “Hà Nội nghìn xưa” viết : Nghiên cứu thời đại các vua Hùng dựng nước trên lưu vực sông Hồng, giới khảo cổ học miền Bắc đã khắc hoạ được sự diễn biến văn hoá và lịch sử liên tục từ khoảng cuối thời đại đồ đá mới, qua thời đại đồng thau đến đầu thời đồ sắt.
Hà Nội có đủ các di tích tiêu biểu cho dòng diễn biến liên tục về văn hoá và lịch sử suốt 2000 năm trước công nguyên, đã xây dựng được một phổ hệ các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao: Trước hết, giai đoạn Phùng Nguyên, hay đầu thời đại đồng thau từ khoảng 4000 năm đến 3500 cách ngày nay. Đại diện cho giai đoạn này ở Hà Nội là các di chỉ Đồng Vông (Đông Anh), gò Cây Táo, Văn Điển (Thanh Trì). Di chỉ Gò Cây Táo đã được biết đến như thế nào? sách “Những phát hiện mới về khảo cổ học” của hai tác giả Trần Quốc Vượng và Hà Hùng Tiến, do Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1973 cho biết: Tháng 8 – 1970 do nhân dân đào mương ở cách Đồng Miễu và Đồng Đỗi phát hiện có những dấu vết của những ngôi mộ cổ, sau đó các nhà khảo cổ học gặp gỡ một số cụ già trong làng, thăm từ đường họ Giang Nguyên và biết được 4 hiện vật bằng đá là những chiếc bôn, mảnh bôn bị gẫy được tìm thấy ở cánh đồng làng. Dựa trên cơ sở ấy, các cán bộ khảo cổ học đã đi khảo sát điền dã ở một số cánh đồng, khi tới cánh đồng Miễu, khu vực gò Cây Táo quả nhiên có dấu tích khảo cổ học.
Ngày 12-1-1972, Bộ văn hoá - Thông tin ra quyết định số 10/VH - QĐ cho phép khoa Sử trường Đại học tổng hợp Hà Nội được khai quật di chỉ gò Cây Táo. Di chỉ gò Cây Táo nằm trên cánh đồng Miễu thôn Triều Khúc, xã Tân Triều, Bắc giáp xóm Án, Nam giáp cánh đồng làng Kim Lũ xã Đại Kim, Tây giáp khu đồng Dọc Kiều, Giò Gà của làng. Nhiều hiện vật thu được qua đợt khai quật và bước đầu giám định niên đại, các nhà khảo cổ học đã xếp di chỉ gò Cây Táo (Triều Khúc) cùng chung giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, tức thời đại các Vua Hùng dựng nước, cách ngày nay từ 4200 - 3500 năm. Nghiên cứu di chỉ gò Cây Táo và di chỉ Văn Điển cạnh đó, cho phép chúng ta đoán định rằng từ thời các vua Hùng dựng nước trên mảnh đất Triều Khúc hiện nay đã có người Việt cổ sinh sống6 1.
Lịch sử làng Triều Khúc Qua các tài liệu khảo cổ học đã dẫn ở phần trên cho ta biết, từ trên 2000 năm về trước, mảnh đất Triều Khúc đã có cư dân người Việt cổ sinh sống, về cơ bản lịch sử làng Triều Khúc đã trải quả các thời kỳ sau: Vào giữa thế kỷ VIII. Khi nghĩa quân Phùng Hưng từ Đường Lâm về lập quân doanh ở Triều Khúc, trong đó có vị gia tướng họ Giang của Phùng Hưng. Người này trở thành ông tổ họ Giang ở làng Triều Khúc. Hiện nay ở cổng từ đường họ Giang ở Triều Khúc vẫn còn 3 chữ “Dân sơ sinh” ý nói đây là những người đầu tiên của họ Giang đến sinh sống cùng dân làng Triều Khúc.
Người họ Giang Văn, Đường Lâm ở lại sinh cơ lập nghiệp cùng nhân dân làng Triều Khúc đã mang theo đặc trưng giọng nói vốn là thổ ngữ vùng Sơn Tây mà các nhà ngôn ngữ học thường gọi là tiếng “Trại”.