Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 62340102) của nghiên cứu sinh Đàm Trí Cường, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Võ Thị Quý và PGS. Phạm Xuân Lan tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2016), có tiêu đề: "Khám phá thang đo chất lượng giáo dục bậc đại học ngành quản trị kinh doanh trên góc độ sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh".
Về tính cấp thiết, tác giả phân tích rằng xu hướng toàn cầu hóa, sự gia tăng cạnh tranh quốc tế và chính sách mở cửa thị trường giáo dục tại Việt Nam dẫn đến sự xuất hiện của các trường đại học quốc tế, các cơ sở đại học ngoài công lập, cùng lộ trình mở rộng quyền tự chủ tài chính cho các trường công lập. Khi sinh viên phải chi trả học phí, họ hành xử như những người tiêu dùng trực tiếp và tìm kiếm cơ sở giáo dục có chất lượng cao. Do đó, việc cải thiện chất lượng giáo dục trở thành công cụ then chốt để thu hút người học và bảo đảm nguồn thu cho nhà trường. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra xuất phát từ thực tế là các nghiên cứu quốc tế về thang đo chất lượng giáo dục đại học chưa đạt được sự đồng thuận về số lượng và nội dung các thành phần cấu thành; đồng thời tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở tiêu chuẩn quản lý, khảo sát một số khía cạnh tác động riêng lẻ hoặc kế thừa nguyên bản các mô hình ngoại nhập (như HEdPERF hay SERVQUAL) mà chưa có công trình thực nghiệm xây dựng và kiểm định toàn diện thang đo chất lượng giáo dục đại học trên góc độ cảm nhận của sinh viên.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là khám phá thang đo chất lượng giáo dục bậc đại học ngành Quản trị kinh doanh (QTKD) trên góc độ sinh viên. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Khám phá các thành phần và thang đo tạo nên chất lượng giáo dục bậc đại học ngành QTKD trên góc độ sinh viên.
- Kiểm định thang đo các thành phần tạo nên chất lượng giáo dục bậc đại học ngành QTKD trên góc độ sinh viên.
Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu:
- Các thành phần tạo nên chất lượng giáo dục bậc đại học ngành QTKD trên góc độ sinh viên là những thành phần nào?
- Thang đo của các thành phần tạo nên chất lượng giáo dục bậc đại học ngành QTKD trên góc độ sinh viên là gì?
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các thành phần tạo nên chất lượng giáo dục bậc đại học trên góc độ sinh viên. Đối tượng khảo sát là sinh viên bậc đại học đang theo học ngành QTKD. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian nghiên cứu định tính diễn ra từ tháng 8/2013 đến tháng 11/2013, tiếp nối bằng các giai đoạn điều tra định lượng sơ bộ và định lượng chính thức. Luận án giới hạn phạm vi học thuật ở việc khám phá và kiểm định thang đo cảm nhận chất lượng dịch vụ giáo dục của sinh viên, không đi sâu phân tích đặc thù chuyên môn kỹ thuật của ngành QTKD và không đo lường các mối quan hệ tác động đến sự hài lòng hay lòng trung thành của sinh viên.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết các quan điểm tiếp cận chất lượng giáo dục đại học từ nhiều nhóm đối tượng liên quan theo phân loại của Harvey và Green (1993), Srikanthan và Dalrymple (2003, 2007), cũng như AUN-QA (2006): góc độ người cung cấp, người sử dụng kết quả (nhà tuyển dụng), người làm giáo dục (giảng viên, nhà quản lý) và người sử dụng trực tiếp (sinh viên). Trong đó, tác giả tập trung vào góc độ sinh viên dựa trên cơ sở xem sinh viên là khách hàng chính của giáo dục đại học (Hill, 1995; Owlia và Aspinwall, 1996; Senthilkumar và Arulraj, 2011; Sumaedi và cộng sự, 2012).
Điểm lại hệ thống nghiên cứu quốc tế, tác giả phân tích sự thiếu nhất quán giữa các công trình:
- Tại khu vực Châu Âu: Các tác giả như Joseph và Joseph (1997a), LeBlanc và Nguyen (1997), Lagrosen và cộng sự (2004), Tsinidou và cộng sự (2010) xác định nhiều bộ thành phần khác nhau, nhưng phần lớn quy tụ về bốn khía cạnh chung: chương trình đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.
- Tại khu vực Châu Á: Các nghiên cứu của Kwan và Ng (1999), Firdaus (2006), Chen và cộng sự (2007), Gamage và cộng sự (2008), Jain và cộng sự (2013) ghi nhận các thành phần chủ đạo gồm: chương trình đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, cùng hoạt động ngoại khóa. Mặc dù vậy, số lượng biến quan sát và cách phân tách các thành phần cụ thể vẫn có sự khác biệt lớn giữa từng quốc gia (Jain và cộng sự, 2010).
Tại Việt Nam, tác giả điểm lại bối cảnh pháp lý và các công trình liên quan:
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004) ban hành quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học với 10 tiêu chuẩn và 53 tiêu chí, được đánh giá thử nghiệm tại 20 trường đại học và điều chỉnh vào năm 2009 (Nguyễn Kim Dung, 2007). Nguyễn Văn Tuấn (2011) nhận định bộ tiêu chuẩn này mang tính chất quản lý giáo dục hơn là tiêu chuẩn đo lường cấp độ đào tạo đại học.
- Tiêu chuẩn AUN-QA (2011) kết hợp nhiều góc nhìn của nhà quản lý, nhân viên hỗ trợ, giảng viên, nhà tuyển dụng và sinh viên nhưng thuộc khung quản trị tổng thể.
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Trang và cộng sự (2008) chỉ tập trung đo lường tác động của năng lực giảng viên đến kiến thức thu nhận của sinh viên khối ngành kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2011) chỉ dừng lại ở bước đề xuất các thành phần lý thuyết mà chưa kiểm định thực nghiệm.
- Các nghiên cứu của Hoàng Trọng và Hoàng Thị Phương Thảo (2007) hay Điệp Quốc Bảo và Nguyễn Đông Phong (2014) chủ yếu kế thừa thang đo có sẵn từ nước ngoài (mô hình của Hill, Harvey, hoặc thang HEdPERF của Firdaus) để đánh giá sự hài lòng của sinh viên.
Khoảng trống luận án giải quyết: Đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, tại Việt Nam chưa có công trình nào thực hiện quy trình khám phá và kiểm định một thang đo chất lượng giáo dục đại học hoàn chỉnh trên góc độ sinh viên, đồng thời các nghiên cứu quốc tế trước đây chưa phản ánh đầy đủ thành phần "chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên" trong thang đo chất lượng giáo dục đại học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên hai nền tảng lý thuyết chủ đạo: lý thuyết chất lượng dịch vụ và lý thuyết chất lượng giáo dục đại học.
- Khái niệm chất lượng và dịch vụ: Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa chất lượng từ Feigenbaum (1951), Gilmore (1974), Crosby (1979), Peters và Waterman (1982), Parasuraman và cộng sự (1985), Juran và Gryna (1988), Garvin (1988). Dịch vụ được xem xét qua các thuộc tính: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời (Parasuraman và cộng sự, 1985; Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) và tính không lưu trữ được (Kotler, 2003; Cuthbert, 1996).
- Về mô hình đo lường: Luận án phân tích mô hình chất lượng kỹ thuật - chức năng của Gronroos (1984), mô hình 3 thành phần của Lehtinen và Lehtinen (1982), Rust và Oliver (1994), Brady và Cronin (2001), cùng hai thang đo phổ biến là SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1988 với 5 thành phần: tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm, phương tiện hữu hình) và SERVPERF (Cronin và Taylor, 1992, tiếp cận dựa trên nhận thức về kết quả dịch vụ).
- Tiếp cận giáo dục đại học như một dịch vụ: Dựa vào luận điểm của Cuthbert (1996), Zeithaml và cộng sự (2006), Fisk và cộng sự (2007), Dann (2008), Yeo (2008), Sultan và Wong (2010), trường đại học được xem là đơn vị cung ứng dịch vụ trải nghiệm học tập, sinh viên là người sử dụng dịch vụ. Cụm từ "chất lượng giáo dục đại học" trong luận án được đồng nhất về mặt ngữ nghĩa với "chất lượng dịch vụ giáo dục đại học", đo lường cảm nhận thực tế của sinh viên về quá trình đào tạo và môi trường hỗ trợ.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng theo quy trình phát triển thang đo của Churchill (1979) và Nguyễn Đình Thọ (2011):
| Giai đoạn nghiên cứu |
Phương pháp thu thập dữ liệu |
Quy mô mẫu và địa bàn |
Phương pháp và công cụ phân tích |
Mục tiêu chính |
| Nghiên cứu định tính |
Thảo luận nhóm tập trung (3 cuộc thảo luận) |
Sinh viên ngành QTKD tại 6 trường đại học ở TP.HCM (từ tháng 8/2013 đến 11/2013) |
Phân tích nội dung, đối chiếu lý thuyết |
Khám phá, điều chỉnh, bổ sung các thành phần và thang đo cho phù hợp thực tiễn Việt Nam |
| Nghiên cứu định lượng sơ bộ |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết |
Mẫu thuận tiện n = 121 sinh viên QTKD tại Trường ĐH Kinh tế TP.HCM |
Phân tích nhân tố khám phá (EFA), Hệ số tin cậy Cronbach's alpha |
Đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị thang đo |
| Nghiên cứu định lượng chính thức |
Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết |
Mẫu thuận tiện n = 2.713 sinh viên QTKD tại 3 trường (ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Mở TP.HCM, ĐH Văn Lang) |
Phân tích EFA, Cronbach's alpha, Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) |
Kiểm định tính đơn hướng, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích |
Các trường tham gia nghiên cứu định tính gồm: Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, Trường Đại học Mở TP.HCM, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM, Trường Đại học Văn Lang, Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan của luận án
Chương 1 thiết lập khung tổng thể của đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày tính cấp thiết xuất phát từ hội nhập giáo dục, áp lực cạnh tranh giữa các trường công lập và ngoài công lập, việc mở rộng tự chủ đại học và vai trò chi trả của sinh viên. Chương này xác định rõ mục tiêu nghiên cứu là khám phá và kiểm định thang đo chất lượng giáo dục đại học ngành QTKD trên góc độ sinh viên; đưa ra hai câu hỏi nghiên cứu cốt lõi; giới hạn phạm vi nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh; tóm lược quy trình phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng; khái quát những đóng góp khoa học, đóng góp thực tiễn và trình bày bố cục năm chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 2 trình bày có hệ thống nền tảng lý luận về chất lượng, dịch vụ và chất lượng giáo dục đại học. Tác giả điểm luận các trường phái định nghĩa chất lượng dịch vụ (quan điểm khoảng cách mong đợi - cảm nhận và quan điểm chỉ đo lường kết quả cảm nhận). Tiếp đó, tác giả luận giải bản chất của giáo dục đại học như một ngành dịch vụ không thể tách rời giữa đào tạo và tiêu thụ trải nghiệm học tập, từ đó định nghĩa chất lượng giáo dục đại học trên góc độ người học. Tác giả phân loại và tổng hợp chi tiết các thành phần chất lượng giáo dục đại học qua các công trình tại Châu Âu (Joseph và Joseph, LeBlanc và Nguyen, Lagrosen và cộng sự, Tsinidou và cộng sự), Châu Á (Kwan và Ng, Firdaus, Chen và cộng sự, Gamage và cộng sự, Jain và cộng sự) và Việt Nam. Từ việc tổng hợp lý thuyết, tác giả chỉ ra khe hổng kiến thức: sự thiếu thống nhất về các thành phần cấu thành và sự vắng mặt của yếu tố dịch vụ hỗ trợ sinh viên trong các thang đo hiện có.
Chương 3: Khám phá các thành phần, thang đo và đánh giá sơ bộ thang đo
Chương 3 trình bày quy trình xây dựng thang đo và kết quả triển khai nghiên cứu định tính cùng nghiên cứu định lượng sơ bộ:
- Nghiên cứu định tính thông qua 3 cuộc thảo luận nhóm từ tháng 8/2013 đến 11/2013 với sinh viên 6 trường đại học tại TP.HCM. Kết quả khám phá được 6 thành phần ban đầu gồm: (1) Chương trình đào tạo, (2) Giảng viên, (3) Cơ sở vật chất, (4) Tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, (5) Hoạt động ngoại khóa, (6) Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện trên mẫu n = 121 sinh viên Đại học Kinh tế TP.HCM nhằm đánh giá sơ bộ thang đo. Kết quả phân tích EFA trích được 7 nhân tố tại eigenvalue = 1,037 > 1, với tổng phương sai trích đạt 73%:
- Nhân tố 1: Chương trình đào tạo;
- Nhân tố 2: Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên;
- Nhân tố 3: Cơ sở vật chất;
- Nhân tố 4: Kỹ năng giảng dạy của giảng viên;
- Nhân tố 5: Tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp;
- Nhân tố 6: Hoạt động ngoại khóa;
- Nhân tố 7: Tương tác giữa giảng viên và sinh viên.
Tất cả các biến quan sát đều có trọng số nhân tố (factor loading) lớn hơn 0,50 và mức chênh lệch trọng số giữa các nhân tố lớn hơn 0,30. Kết quả kiểm tra độ tin cậy cho thấy tất cả các thang đo đều có hệ số Cronbach's alpha > 0,60, đạt yêu cầu để đưa vào khảo sát chính thức.
Chương 4: Kiểm định thang đo và thảo luận kết quả nghiên cứu
Chương 4 kiểm định thang đo trên mẫu khảo sát chính thức n = 2.713 sinh viên thuộc 3 trường đại học (ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Mở TP.HCM, ĐH Văn Lang) và thảo luận kết quả:
- Kết quả phân tích EFA và đánh giá độ tin cậy Cronbach's alpha trên mẫu n = 2.713 xác định và khẳng định lại 6 thành phần (trong đó khía cạnh giảng viên được tách thành kỹ năng giảng dạy và tương tác; thành phần tương tác nhà trường - doanh nghiệp không duy trì độc lập):
- Chương trình đào tạo;
- Kỹ năng giảng dạy của giảng viên;
- Tương tác giữa giảng viên và sinh viên;
- Cơ sở vật chất;
- Hoạt động ngoại khóa;
- Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
Hệ số Cronbach's alpha của tất cả các thang đo thành phần đều đạt giá trị > 0,60.
- Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA): Mô hình đo lường đạt yêu cầu về độ thích hợp tổng thể, khẳng định tính đơn hướng, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích của các khái niệm.
- Thảo luận kết quả: Tác giả so sánh thang đo được xác nhận với các nghiên cứu trước đây tại Châu Âu, Châu Á và Việt Nam, giải thích sự tương đồng về các yếu tố học thuật truyền thống (chương trình, giảng viên, cơ sở vật chất) và phân tích sự phù hợp của hai thành phần hoạt động ngoại khóa cùng chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên trong bối cảnh các trường đại học tại Việt Nam.
Chương 5: Kết luận, hàm ý và hạn chế đề tài
Chương 5 tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, khẳng định mô hình thang đo 6 thành phần đã qua kiểm định thực nghiệm. Tác giả trình bày các đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn; đề xuất các hàm ý quản trị cùng những giải pháp cụ thể giúp nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục ngành QTKD trên góc độ trải nghiệm sinh viên; đồng thời nêu rõ các hạn chế về đối tượng, phương pháp lấy mẫu và gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã xác định và kiểm định hoàn chỉnh mô hình thang đo chất lượng giáo dục bậc đại học ngành QTKD trên góc độ sinh viên gồm 6 thành phần:
- Chương trình đào tạo;
- Kỹ năng giảng dạy của giảng viên;
- Tương tác giữa giảng viên và sinh viên;
- Cơ sở vật chất;
- Hoạt động ngoại khóa;
- Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Tổng hợp một cách có hệ thống lý thuyết chất lượng dịch vụ giáo dục đại học từ các nghiên cứu trước trên thế giới (Châu Âu, Châu Á) và tại Việt Nam.
- Bổ sung một thành phần hoàn toàn mới vào thang đo chất lượng giáo dục đại học trên góc độ sinh viên là thành phần "Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên". Thành phần này xuất hiện từ quá trình thảo luận nhóm với sinh viên và được kiểm định thực nghiệm đạt các tiêu chuẩn khoa học.
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống biến quan sát cho thang đo của 4 khái niệm thành phần: chương trình đào tạo, kỹ năng giảng dạy của giảng viên, cơ sở vật chất, và chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên, cung cấp bộ công cụ đo lường đã qua kiểm định CFA (đạt tính đơn hướng, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích).
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp cơ sở nhận thức khoa học giúp các nhà quản lý giáo dục đại học hiểu rõ các khía cạnh cấu thành chất lượng đào tạo dưới góc nhìn của người học.
- Đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trường đại học trong việc xây dựng chính sách, cải tiến chương trình học, nâng cao năng lực sư phạm, cải thiện phương tiện vật chất và đẩy mạnh chất lượng các dịch vụ hỗ trợ người học nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh trong tuyển sinh và đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Các hạn chế được luận án ghi nhận bao gồm:
- Về phạm vi đối tượng và không gian: Nghiên cứu chỉ giới hạn khảo sát sinh viên đang học ngành Quản trị kinh doanh tại các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các chuyên ngành khác và các địa phương khác.
- Về phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong cả hai giai đoạn định lượng sơ bộ và chính thức, do đó tính đại diện cho toàn bộ quần thể sinh viên đại học còn những giới hạn nhất định.
- Về mô hình nghiên cứu: Đề tài dừng lại ở việc khám phá và kiểm định thang đo chất lượng dịch vụ giáo dục đại học, chưa mở rộng kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa thang đo này với các biến số kết quả như sự hài lòng của sinh viên hay lòng trung thành đối với nhà trường.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả định hướng:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các khối ngành đào tạo khác và các vùng miền, tỉnh thành khác nhằm kiểm định độ ổn định của thang đo.
- Ứng dụng phương pháp chọn mẫu xác suất để nâng cao tính đại diện.
- Phát triển các mô hình cấu trúc tuyến tính kiểm định tác động của 6 thành phần chất lượng giáo dục đến sự hài lòng, hình ảnh trường đại học và lòng trung thành của sinh viên.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị dịch vụ, Marketing và Quản lý giáo dục: cung cấp tài liệu tổng quan toàn diện về lý thuyết dịch vụ và thang đo giáo dục đại học, cùng quy trình từng bước phát triển và kiểm định thang đo theo chuẩn mực nghiên cứu hàn lâm (từ thảo luận nhóm, EFA, Cronbach's alpha đến CFA).
- Các nhà quản lý giáo dục, ban giám hiệu các trường đại học và phòng ban chức năng (phòng đào tạo, công tác sinh viên, khảo thí và đảm bảo chất lượng): sử dụng bộ thang đo 6 thành phần để thiết kế bảng khảo sát định kỳ lấy ý kiến sinh viên, từ đó nhận diện chính xác các điểm nghẽn trong dịch vụ hỗ trợ, cơ sở vật chất hay phương pháp giảng dạy để thực hiện các cải tiến phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Thang đo chất lượng giáo dục đại học ngành QTKD cuối cùng được xác nhận qua phân tích CFA gồm những thành phần nào?
Kết quả kiểm định CFA trên mẫu 2.713 sinh viên tại 3 trường đại học xác nhận thang đo gồm 6 thành phần: (1) Chương trình đào tạo, (2) Kỹ năng giảng dạy của giảng viên, (3) Tương tác giữa giảng viên và sinh viên, (4) Cơ sở vật chất, (5) Hoạt động ngoại khóa, và (6) Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Tất cả đều đạt tính đơn hướng, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích.
2. Kích thước mẫu và địa bàn điều tra trong các giai đoạn định lượng được triển khai như thế nào?
Nghiên cứu định lượng sơ bộ sử dụng cỡ mẫu n = 121 sinh viên ngành QTKD tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM để phân tích EFA và tính hệ số Cronbach's alpha. Nghiên cứu định lượng chính thức sử dụng cỡ mẫu n = 2.713 sinh viên ngành QTKD tại ba trường: Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, Trường Đại học Mở TP.HCM và Trường Đại học Văn Lang để phân tích EFA, Cronbach's alpha và kiểm định CFA.
3. Đóng góp mới nổi bật nhất của luận án về mặt thang đo so với các nghiên cứu trước đây là gì?
Đóng góp mới nổi bật là việc phát hiện và kiểm định thành công thành phần "Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên" – một khía cạnh chưa từng được đưa vào các mô hình thang đo chất lượng giáo dục đại học của các công trình công bố trước đó; đồng thời bổ sung các biến quan sát cụ thể cho thang đo của chương trình đào tạo, kỹ năng giảng dạy của giảng viên, cơ sở vật chất và chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên.
4. Vì sao tác giả đồng nhất khái niệm chất lượng giáo dục đại học với chất lượng dịch vụ giáo dục đại học?
Tác giả lý giải dựa trên ba cơ sở: (1) tiếp cận trường đại học là đơn vị cung ứng dịch vụ trải nghiệm học tập và sinh viên là người sử dụng dịch vụ; (2) tổng quan y văn cho thấy các nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học trên thế giới đều lồng ghép các yếu tố dịch vụ học thuật và phi học thuật chứ không tách rời hai phạm trù này; (3) các định nghĩa đo lường chất lượng giáo dục đại học (như O'Neill và Palmer, 2004) đều dựa trên sự so sánh giữa kỳ vọng và cảm nhận thực tế của sinh viên tương tự như định nghĩa chất lượng dịch vụ của Gronroos và Parasuraman.
5. Nghiên cứu định tính được tiến hành với những đối tượng nào và trong khoảng thời gian nào?
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua 3 cuộc thảo luận nhóm với sinh viên theo học ngành QTKD tại 6 trường đại học trên địa bàn TP.HCM (Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, Trường ĐH Mở TP.HCM, Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Trường ĐH Văn Lang, Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn), diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 8/2013 đến tháng 11/2013.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đàm Trí Cường (2016) đã vận dụng cách tiếp cận giáo dục đại học như một ngành dịch vụ để xây dựng và kiểm định thang đo chất lượng giáo dục ngành Quản trị kinh doanh trên góc độ sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua quy trình kết hợp thảo luận nhóm định tính và khảo sát định lượng trên mẫu lớn (n = 2.713), nghiên cứu đã xác định và kiểm định thành công mô hình đo lường gồm 6 thành phần, trong đó bổ sung yếu tố mới là chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Kết quả nghiên cứu cung cấp một hệ thống thang đo đạt độ tin cậy và giá trị khoa học, làm cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo và cung cấp công cụ thực tiễn cho các nhà quản lý đại học trong việc nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của người học.