PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, du lịch An Giang đƣợc đánh giá là một bức tranh không mấy sáng, nếu không có các điểm du lịch tâm linh “thu tiền” truyền thống “vực” lại (điển hình nhƣ miếu Bà-Vía Bà Chúa xứ), thì du lịch An Giang chƣa thể đứng vững đƣợc nếu không có “tƣ duy” làm mới. Ở vùng Bảy Núi cũng thế, dù là một vùng đầy tiềm năng về các loại hình du lịch, nhƣng chƣa thu hút khách đến tham quan; những tiềm năng này chƣa đóng góp vào “kinh tế” nhƣ mong đợi, nếu không có “hệ thống cáp treo” núi Cấm. Qua thực địa và thống kê cho thấy, hiện nay hình thức du lịch bằng cáp treo lên núi Cấm đang bị “nhạt” dần lƣợng khách mỗi ngày một giảm, vì nhiều lý do nhƣ : cơ chế tận thu, ngƣời dân biết rồi cũng chán.836 lƣợt khách nhƣng năm 2018 chỉ đón 535.115 lƣợt khách, giảm 6.721 lƣợt khách (theo thống kê của trung tâm hạ tầng kỹ thuật huyện Tịnh Biên).
Tƣ duy làm du lịch hiện nay của ta là chỉ làm một ngày lễ hội rồi ngồi ăn một năm, không chú trọng đến những gì đƣợc cho là “tiềm năng bền vững”, cố khơi lên cái hào nhoáng để thu tiền khách rồi sau đó khách quay lại hay không thì tùy, ngồi đợi mùa sau. Hiện nay, thực trạng du lịch ở Bảy Núi nằm trong kiểu tƣ duy này, chỉ cần một chỗ làm trung tâm là đủ, còn các nơi khác dù có tiềm năng cũng không cần phải đi liền với trung tâm, cứ để tự trôi, ai đến thì đến. Chính tƣ duy, cách làm, trình độ nghiệp vụ và còn nhiều yếu tố khác làm cho du lịch Bảy Núi nghèo nàn, chỉ đơn thuần là du lịch tâm linh quy tụ về núi Sam, núi Cấm, du lịch loại hình lạ là cáp treo. Trong khi đó tiềm năng thì nhiều, nhƣng chƣa phát triển so với tiềm năng, chƣa biến du lịch trở thành ngành công nghiệp không khói thật sự so với các tỉnh bạn trong khu vực.
Dựa vào yếu tố tự nhiên, tín ngƣỡng… vùng Bảy Núi đƣợc xem là tâm điểm du lịch tâm linh, sinh thái rất giàu tiềm năng. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, quy hoạch tổng thể, tạo thành một tuyến “du lịch vòng quanh Bảy Núi” với các loại hình du lịch đang xen nhau : du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch khám phá. Với những tiềm năng phong phú về lợi thế phát triển du lịch, tỉnh An Giang xác định từng bƣớc đƣa du lịch vùng Bảy Núi thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, biến các thách thức thành cơ hội, hƣớng tới sự phát triển bền vững dựa trên trụ 1 cột “nền kinh tế xanh” góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trên cơ sở tận dụng tiềm năng sẵn có kết hợp sự đầu tƣ đúng mức và sự hỗ trợ, quan tâm của nhà nƣớc để tạo điều kiện tốt nhất cho ngành du lịch phát triển. Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể và có những định hƣớng và giải pháp hợp lý, nhằm phát triển bền vững du lịch bảy núi, nhằm đem lại hiệu quả cao, tƣơng xứng với tiềm năng.
Với mong muốn đƣợc đóng góp công sức của mình vào phát triển quê hƣơng, tôi đã chọn đề tài: “Khai thác tiềm năng phát triển du lịch vùng Bảy Núi tỉnh An Giang” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế. Các công trình nghiên cứu có liên quan Bộ Ngoại giao (2005), “Ngành dịch vụ Việt Nam và định hƣớng phát triển trong thời gian tới” đã đề cập đến các ngành dịch vụ nƣớc ta hiện nay, phân tích những lợi thế và những hạn chế, yếu kém trong cạnh tranh dịch vụ nhƣ dịch vụ cảng biển, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ du lịch và các lĩnh vực dịch vụ mới nhƣ bảo hiểm, tài chính…từ đó đề xuất những định hƣớng phát triển các lĩnh vực dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch Việt Nam trong xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế. Trƣơng Quang Hoàn (2011), “Đánh giá quá trình thực hiện tự do hóa thƣơng mại đối với một số lĩnh vực dịch vụ ƣu tiên hội nhập ASEAN”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 10 đã khái quát những nội dung cùng với phân tích, đánh giá quá trình thực thi tự do hóa dịch vụ và những rào cản mà ASEAN gặp phải trong quá trình hội nhập nhƣ: Dịch vụ vận tải hàng không; dịch vụ du lịch; dịch vụ thông tin - thƣơng mại điện tử; dịch vụ hậu cần logistics; dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe; đồng thời tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thực thi hiệu quả các lĩnh vực dịch vụ ƣu tiên khi hội nhập khu vực nhƣ: Dịch vụ vận tải hàng không; dịch vụ thôn tin; dịch vụ hậu cần logistics, dịch vụ du lịch. Nguyễn Trùng Khánh (2011), “Một số chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của Malaysia”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10.
Trong bài viết này tác giả đã nghiên cứu tƣơng đối chi tiết những điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa của Malayxia nêu lên những chính sách về phát triển du lịch của Malayxia nhƣ: cải tổ bộ máy quản lý du lịch, triển khai nhiều chiến dịch tổng thể phát triển du lịch cho từng giai đoạn, tăng cƣờng đầu tƣ cho phát triển hoạt động du lịch (tăng ngân sách cho quảng bá du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, nâng cao chất lƣợng sản phẩm du lịch, xây dựng 2 mạng lƣới văn phòng du lịch ở nƣớc ngoài. Đây là những bài học hết sức quý báu để ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh An Giang nói riêng tham khảo, học tập. Võ Văn Thắng (2011), “Du lịch tâm linh là lợi thế lớn nhất trong du lịch An Giang. Do đó, vấn đề là phải khai thông những vƣớng mắc nhƣ: Môi trƣờng tự nhiên tại các điểm du lịch tâm linh bị ô nhiễm đáng báo động, một số điểm chƣa bảo đảm điều kiện vệ sinh tối thiểu cho khách.
Điều này khiến du khách cảm thấy ái ngại và lo sợ, đặc biệt là khách quốc tế. Hệ quả là du khách chỉ muốn đến để tham quan một cách nhanh chóng rồi đi mà không ở lại lâu hơn”. Nguyễn Thị Thi Phƣợng (2010), “Hợp tác du lịch giữa An Giang với Campuchia”, Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang, số 7 (65), tr 25-26. Hoạt động du lịch không chỉ gói gọn trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia mà còn có cơ hội và tiềm năng phát triển rộng ra các nƣớc tiểu vùng sông Mekong.
Đây là một trong những nội dung mà An Giang có thể hợp tác để phát triển trong thời gian tới. Nhật Ninh (2014), “Du lịch An Giang và những định hƣớng phát triển”, Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang, số 9 (114), tr 24-25. Theo tác giả, du lịch An Giang đang tự khẳng định mình trong sự phát triển chung với kinh tế tỉnh nhà, đồng thời đang làm tốt vai trò giới thiệu, quảng bá hình ảnh con ngƣời An Giang đến với nhân dân trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, cả nƣớc nói chung. Võ Tá Tri (2011), “Phát triển bền vững du lịch - Một xu hƣớng tất yếu hiện nay”, Tạp chí Thƣơng mại, số 15.Trong bài viết này tác giả đã nêu lên vai trò của dịch vụ du lịch trong nền kinh tế của các quốc gia và xu hƣớng phát triển của du lịch, phân tích những yếu tố tác động đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch nhƣ: Quy mô, khả năng, chất lƣợng cung ứng những sản phẩm dịch vụ du lịch, yếu tố về thể chế, yếu tố thuộc về văn hóa, chính trị - xã hội, an ninh trật tự xã hội, các vấn đề về môi trƣờng sinh thái.
đây là những bài toán cần có những lời giải để ngành du lịch nƣớc ta phát triển theo hƣớng bền vững. Phùng Đức Vinh (2014), “Phát triển loại hình du lịch MICE một hƣớng đi cần thiết của Bà Rịa - Vũng Tàu”, Báo Điện tử Du lịch Việt Nam, ngày 28/4. Theo tác giả, du lịch MICE là loại hình kinh doanh du lịch kết hợp với việc cá nhân hay các tổ chức tham dự các hội nghị (Meetings), tham gia các chƣơng trình khuyến mãi, khen thƣởng (Incentives), dự hội thảo (Conferences/Conventions) và tham gia vào các cuộc triển lãm, các sự kiện (Exhibitions/Events) về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Loại hình du lịch MICE có tốc độ tăng trƣởng nhanh hơn so với các loại du lịch thông thƣờng Theo tác giả 3 du lịch MICE mới phát triển khoảng 10 năm trở lại đây ở nƣớc ta nhƣng chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn nhƣ TP.
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế, Hội An, Nha Trang… Phát triển du lịch MICE là một hƣớng đi đúng và mang tầm chiến lƣợc lâu dài cho du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây cũng là một kinh nghiệm để An Giang nghiên cứu và phát triển ngành du lịch của địa phƣơng. Hồ Viết Chiến (2016) “Phát triển dịch vụ du lịch biển và tâm linh ở Bà Rịa – Vũng Tàu” Tạp chí Kinh tế & Dự báo (05); Bài viết đã nêu lên những tiềm năng, lợi thế để đặc biệt của Bà Rịa – Vũng Tàu , nhất là tiềm năng về du lịch biển và những giá trị văn hóa, tín ngƣỡng, tôn giáo; đây là những lợi thế để phát triển ngành du lịch; đồng thời bài viết đã đề xuất nhiều giải pháp kết hợp giữa du lịch biển với du lịch văn hóa tâm linh, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. An Giang cũng là địa phƣơng có nhiều di tích văn hóa tâm linh đặc biệt nổi tiếng, nên đây cũng là bài học để An Giang học tập và phát triển ngành du lịch của địa phƣơng.
Nguyễn Thị Bích Ly – Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch huyện Tịnh Biên” Hội thảo khoa học – Tịnh Biên ngày 08 tháng 10 năm 2016; Bài viết nói lên Tịnh Biên là huyện vùng núi, biên giới có nguồn tài nguyên tƣơng đối phong phú, đa dạng nhất là các tài nguyên về du lịch, trong đó, có cả các lợi thế về du lịch tự nhiên và du lịch tâm linh, tiềm năng của vùng là điều kiện thuận lợi giúp cho huyện lựa chọn phát triển các ngành dịch vụ - du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Hoàng Văn Lễ - Viện trƣởng Viện Lịch sử Dòng họ (TP.