CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG MÊ KÔNG 1.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG MÊ KÔNG 1.1 Vị trí địa lý Sông Mê Kông là con sông lớn nhất ở Đông Nam Châu Á, đứng thứ 12 trên thế giới về tổng lượng dòng chảy năm, sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng Trung Quốc chảy qua lãnh thổ của 6 nước là Trung Quốc (tỉnh Vân Nam), Myanmar, Lào, Thái Lan, Cămpuchia và Việt Nam. Sông Mê Kông có chiều dài 4.880 km, tổng diện tích 795.000 km2 [6] và được chia thành 2 phần chính: phần thượng lưu gồm phần diện tích lưu vực nằm trên lãnh thổ của Trung Quốc (tỉnh Vân Nam) và Myanma có diện tích 189. Phần hạ lưu của lưu vực, tính từ Tam Giác Vàng - biên giới chung của 3 nước Thái Lan, Lào và Myanma ra Biển Đông nằm Hình 1 – Bản đồ lưu vực sông Mê Kông 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong lãnh thổ của 4 nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam có tổng diện tích là 606. Phần thượng nguồn Mê Kông chảy trong lãnh thổ Trung Quốc được gọi là sông Lang Thương (hay còn gọi Lạng Xang, Lạng Cang tùy theo phiên âm).
Dòng chính sông Mê Kông, phần hạ lưu có một số đoạn chảy theo đường biên giới giữa Thái Lan và Lào, phần còn lại sông chảy hoàn toàn trong lãnh thổ Lào, Campuchia và Việt Nam (hình 1). Dân số ở hạ lưu sông Mê Kông hiện nay vào khoảng 60 triệu người, được dự kiến tăng lên 100 triệu vào năm 2025, hơn 80% dân số sống dựa vào nguồn tài nguyên nước và các nguồn tài nguyên khác trong lưu vực. Hơn 30% số dân đang ở mức sống nghèo khổ và từ 50-80% dân chưa tiếp cận với nguồn nước sạch[6].2 Địa hình, địa chất, thảm phủ Bắt nguồn từ độ cao khoảng 4500 m ở Tây Tạng qua vùng Tân Cương với chiều dài 800 km trước khi vào Vân Nam có địa hình đồi núi cao, có nhiều thác ghềnh là vùng thượng lưu sông Mê Kông. Hạ lưu được bắt nguồn từ vùng tam giác vàng giữa 3 nước Lào, Thái Lan và Myanma, với cao độ khoảng 500 m, từ đây chiều dài sông đổ ra biển khoảng hơn 2500 km.
Các lưu vực nhánh của sông Mê Kông tại Vân Nam hẹp hơn so với các lưu vực nhánh khác ở hạ lưu, sông chính và các chi lưu của nó chảy qua hẻm núi hẹp. Các sông nhánh không lớn, chỉ có 14 lưu vực sông nhánh có diện tích vượt quá 1. Càng về hạ lưu các thung lũng sông trở nên rộng lớn hơn, lòng sông trở nên rộng lớn hơn, lưu tốc chậm hơn. Là một lưu vực sông quốc tế nên địa hình, thổ những cũng như thảm phủ thực vật của lưu vực sông Mê Kông biến đổi phức Hình 2 – Mô tả địa lý sông Mê Kông 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạp, qua từng quốc gia mà nó chảy qua.
Để tiện cho việc nghiên cứu về vấn đề này, sau khi tham khảo một số tài liệu có thể chia lưu vực sông Mê Kông làm ba đoạn theo độ cao giảm dần dạng bậc thang như sau: Đoạn thượng lưu Bắt nguồn từ Tây Tạng đến biên giới Trung Quốc, Mianmar và Lào dài trên 3.000 km, lưu vực hẹp chiếm khoảng 19% tổng diện tích lưu vực. Đoạn này sông chảy mạnh, lòng sông hẹp và sâu, lắm ghềng thác, qua nhiều vùng núi cao. Đoạn trung lưu Kéo dài từ Bắc Viêntiane (Lào) đến vùng Stung Treng - Kratié (Campuchia) hơn 750 km, chiếm 57% diện tích lưu vực. Đoạn sông này chảy song song với dãy Trường Sơn băng qua một cao nguyên sa thạch khổng lồ với các tầng địa chất nằm ngang.
Đến đây, dòng sông mở rộng và sâu hơn vì nhận nhiều nguồn nước. Ở tả ngạn, sông nhận các phụ lưu của sông Nậm Re, Nậm U, Nậm Suông, Nậm Ngừm, Nậm Thưng, Sê Bang Phai, Sê Bang Hiên, Sê Pôn,. Phía hữu ngạn, sông nhận các phụ lưu Nậm Mum bao trùm cao nguyên Càrạt, các phụ lưu Mênam Xongkhram,. Đoạn này có 2 thác rất lớn là thác Kemmarat có dạng một hẻm vực dài 150 km, rộng 60 m và sâu 100 m, bao gồm 9 thác lớn nhỏ, nước chảy xiết, thuyền bè không dám vượt qua và thác Khone dài 15 km, cao 20 m rất hiểm trở.
Chính thác Khone này là trở ngại lớn nhất khiến thuyền bè từ Campuchea không thể đi ngược lên Lào được. Sang đến Campuchia, Mekong nhận các phụ lưu sông Sêkong, Sêsan, SêPôc từ Tây Nguyên Việt Nam đổ xuống ở tả ngạn và dòng TôngLê Sáp ở Tây Bắc Campuchia đổ vào. Đặc biệt, TôngLê Sáp có chế độ sông hồ. Ở đây tồn tại một hồ nước khổng lồ ở giữa dòng TôngLê Sáp có chiều dài 150 km, bề ngang nơi rộng nhất là 32 km gọi là Biển Hồ.
Diện tích mặt nước Biển Hồ mùa cạn là 3.000 m2, sâu trung bình 0,8 - 2,0 m, mùa lũ lên đến 11.000 m2, sâu 8 - 10 m làm ngập nhiều cánh rừng chung quanh. Biển Hồ có dung tích đến 60 tỷ m 3 nước có tác dụng lớn trong điều tiết dòng chảy sông Cửu Long và là nguồn thủy sản to lớn của Campuchia. Đoạn trung lưu này là nơi phát sinh chủ yếu các cơn lũ của sông Mekong. Đoạn hạ lưu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bao gồm các vùng đồng bằng từ Kratié đến Biển Đông dài trên 450 km, chiếm khoảng 5,5 triệu ha.
Đến đây dòng sông ngày càng mở rộng do địa hình bằng phẳng dần, tốc độ dòng chảy giảm và lượng phù sa bồi lắng nhiều. Đặc biệt từ Phom Pênh, sông Mekong chia làm 2 nhánh là sông Tiền (Trans-Bassac) và sông Hậu (Bassac) chảy vào nước ta. Ở ĐBSCL, sông Tiền và sông Hậu lại tiếp tục mở rộng dần và thoát ra biển Đông bằng 8 cửa: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định Anh và Cửa Trần Đề. Hiện các khảo sát liên quan đến dòng Me Kông chủ yếu tập trung từ đoạn biên giới Thái Lan - Mianmar xuống đến biển, trong một khu vực rộng chừng 607.000 km2, chiếm 75% tổng diện tích lưu vực, liên quan mật thiết đến 4 quốc gia dọc theo sông, như sau: Bảng 1 – Lưu vực Mê Kông qua 04 quốc gia thuộc tiểu vùng Quố gia Diện tích lưu vực (Km 2) Diện tích quốc gia (Km2) Lào 201.3 Điều kiện khí tượng, khí hậu Gió Sông Mê Kông chủ yếu là gió mùa Tây Nam, được phân thành 2 mùa rõ rệt với khoảng thời gian tương đối bằng nhau, mùa mưa khoảng từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 9 đầu tháng 10.
Cuối tháng mùa mưa, các trận bão và áp thấp nhiệt đới khác ảnh hưởng lớn đến lưu vực làm cho tháng 8, tháng 9 thậm chí tháng 10 (vùng đồng bằng sông Cửu Long) có tháng có lượng mưa nhiều nhất. Bảng 2 – Tổng quan về các mùa của lưu vực sông Mê Kông Mát Nóng Mát Mưa Lạnh Khô Lạnh I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Gió mùa Chuyển Gió mùa Gió mùa đông bắc mùa tây nam đông bắc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gió mùa đông bắc, thường bắt đầu vào cuối tháng 10, hay mang theo không khí lạnh kết hợp với mưa phùn từ phía bắc Việt Nam sang, vùng hạ lưu sông Mê Kông bị giảm ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc do bị chắn bởi dãy Trường Sơn [6]. Nhiệt độ Biến đổi của nhiệt độ trung bình ở các vùng đồng bằng và thung lũng sông của lưu vực tương đối nhỏ, thể hiện tính chất nhiệt đới và cận nhiệt đới của khí hậu. Tuy nhiên, cũng có thay đổi đáng kể cả theo mùa và theo ngày ở các vùng cao trong điều kiện khí hậu ôn đới phía bắc.
Theo số liệu nghiên cứu thống kê của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế thì nhiệt độ trung bình ở vùng thượng lưu sông biến đổi tương đối lớn; từ vùng có nhiệt độ trung bình thấp đến vùng có nhiệt độ trung bình cao là 15ºC. Sự khác biệt này cho thấy khí hậu lưu vực từ vùng ôn đới sang nhiệt đới gió mùa và biến đổi mạnh về cao độ từ đầu nguồn đến hạ lưu sông Mê Kông. Trong khoảng 2000 km chiều dài sông cao độ đã giảm hơn 4000 m. Đặc trưng khác biệt của vùng này là biến thiên nhiệt độ trong năm lớn, trung bình các tháng lạnh nhất và nóng nhất khoảng gần 20ºC càng về hạ lưu thì biến đổi nhiệt độ theo mùa càng giảm [6].
Mưa Phân bố theo không gian của lượng mưa trung bình nhiều năm vùng hạ lưu sông Mê Kông như hình biểu đồ dưới đây cho thấy, chúng biến đổi khá mạnh, các tiểu lưu vực thuộc Thái có lượng mưa ít hơn khoảng từ 1500 mm trong khi đó lượng mưa tăng lên gấp đôi trong các tiểu lưu vực vùng cao nguyên thuộc Lào. Biểu đồ cho thấy phân bố mưa trung bình nhiều năm có thể chỉ rõ khu vực nào có khả năng đóng góp dòng chảy lớn hơn, đó là vùng bờ tả của sông Mê Kông, chủ yếu nằm trên đất bạn Lào. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn: MRCS Hình 3 – Lượng mưa trung bình nhiều năm một số trạm Hạ lưu sông Mê Kông được chia thành 6 vùng nhỏ hơn để dễ so sánh biến động của mưa theo thời gian và không gian. Vùng đông bắc Thái lan và lưu vực sông Mun/Chi được xác định là vùng tương đối khô cằn.
Điều ngạc nhiên là vùng ngập lũ thuộc đồng bằng sông Mê Kông tại Việt nam và Campuchia có lượng mưa tương đối nhỏ như nhau khoảng 1300 mm (chỉ lớn hơn vùng được xác định là tương đối khô cằn là Khorat – đông bắc Thái lan – khoảng 100mm) nhưng lại là vùng nhận được nhiều nước nhất từ thượng lưu đổ về nên không có cảm giác khô hạn, với lượng mưa nhỏ như này, vùng đồng bằng không thể tự cung cấp nước cho nhu cầu của chính nó. Vùng có lượng mưa cao nhất thuộc về Tây nguyên, vùng thung lũng sông như Pakse. Bảng 3 – Tổng lượng mưa trung bình tháng nhiều năm của một số trạm Đơn vị: mm Tháng Chiang Pakse Khon Pleiku Phnom Chau Doc Rai Kaen Penh I 13 2 5 6 8 8 II 10 7 15 6 3 3 III 20 20 35 25 15 15 IV 85 70 60 85 65 75 V 190 220 170 225 115 165 VI 210 380 180 350 125 110 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.