Chương 1: Tổng quan tài liệu 8 Chương 2: Dữ liệu và phương pháp Chương 3: Ứng dụng mô phỏng dòng chảy hạ lưu sông Sê San Chương 4: Kết luận và kiến nghị 9 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ GIS 1. Định nghĩa Theo Nguyễn Kim Lợi (2009), hệ thống thông tin địa lý được định nghĩa như là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng hệ thống đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý liên quan (Geographically hay Geospatial), nhằm trợ giúp việc thu nhận, lưu trữ, quản lí, xử lí, phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra, chẳng hạn như: để hỗ trợ việc ra quyết định cho vấn đề quy hoạch (Planning) và quản lý (Management) sử dụng đất (Land use), tài nguyên thiên nhiên (Natural resources), môi trường (Environment), giao thông (Transportation), dễ dàng trong việc quy hoạch phát triển đô thị và những việc lưu trữ dữ liệu hành chính. Thành phần của GIS Theo Shahab Fazal (2008), GIS có 6 thành phần cơ bản (được thể hiện ở hình 1.1) như sau: Phần cứng: bao gồm hệ thống máy tính mà các phần mềm GIS chạy trên đó.
Việc lựa chọn hệ thống máy tính có thể là máy tính cá nhân hay siêu máy tính. Các máy tính cần thiết phải có bộ vi xử lý đủ mạnh để chạy phần mềm và dung lượng bộ nhớ đủ để lưu trữ thông tin (dữ liệu). Phần mềm: phần mềm GIS cung cấp các chức năng và công cụ cần thiết để lưu trữ, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian. Nhìn chung, tất cả các phần mềm GIS có thể đáp ứng được các yêu cầu này, nhưng giao diện của chúng có thể khác nhau.
Dữ liệu: dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính liên quan là nền tảng của GIS. Dữ liệu này có thể được thu thập nội bộ hoặc mua từ một nhà cung cấp dữ liệu thương mại. Bản đồ số là hình thức dữ liệu đầu vào cơ bản cho GIS. Dữ liệu thuộc tính đi kèm đối tượng bản đồ cũng có thể định kèm với dữ liệu số.
Một hệ thống GIS sẽ tích hợp dữ liệu không gian và các dữ liệu khác bằng cách sử dụng quan hệ cơ sở quản trị cơ sở dữ liệu. Phương pháp: một hệ thống GIS vận hành theo một kế hoạch đó là những mô hình và cách thức hoạt động đối với mỗi nhiệm vụ. Về cơ bản, nó bao gồm các phương pháp 10 phân tích không gian cho một ứng dụng cụ thể. Ví dụ, trong thành lập bản đồ, có nhiều kỹ thuật khác nhau như tự động chuyển đổi từ raster sang vector hoặc vector hóa thủ công trên nền ảnh quét.
Con người: người sử dụng GIS có thể là các chuyên gia kỹ thuật, đó là người thiết kế và thực hiện hệ thống GIS, hay là người có thể sử dụng GIS để hỗ trợ cho các công việc thường ngày. GIS giải quyết các vấn đề không gian theo thời gian thực. Con người lên kế hoạch, thực hiện và vận hành GIS để đưa ra những kết luận, hỗ trợ cho việc ra quyết định. Mạng lưới: với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, ngày nay thành phần có lẽ cơ bản nhất trong GIS chính là mạng lưới.
Nếu thiếu nó, không thể có bất cứ giao tiếp hay chia sẽ thông tin số. GIS ngày nay phụ thuộc chặt chẽ vào mạng internet, thu thập và chia sẽ một khối lượng lớn dữ liệu địa lý. Con người được coi là thành phần quan trọng nhất trong các thành phần. Hệ thống sẽ không phát huy được tác dụng nếu không có sự tác động của những chuyên gia thực hiện các công việc như quản lý cơ sở dữ liệu, số hóa, kết xuất,.
những người này cần phải có khả năng nhận định về tính chính xác, phạm vi suy diễn thông tin thức nền vững chắc.1: Các thành phần của GIS 1. Chức năng của GIS Theo Basanta Shrestha và CTV (2001), GIS có 4 chức năng cơ bản: Thu thập dữ liệu: dữ liệu được thu thập trong GIS đến từ nhiều nguồn khác nhau, có nhiều dạng và được lưu trữ theo nhiều cách khác nhau. GIS cung cấp công cụ để tích hợp dữ liệu thành một định dạng chung để so sánh và phân tích. Nguồn dữ liệu chính bao gồm số hóa thủ công, quét ảnh hàng không, bản đồ giấy và dữ liệu số có sẵn.
ảnh vệ tính và GPS cũng là nguồn dữ liệu đầu vào. Quản lý dữ liệu: Sau khi dữ liệu được thu thập và tích hợp, GIS cung cấp chức năng lưu trữ và duy trì dữ liệu. Hệ thống quản lý dữ liệu hiệu quả phải đảm bảo các điều kiện về an toàn dữ liệu, toàn vẹn dữ liệu, lưu trữ và trích xuất dữ liệu, thao tác dữ liệu. Phân tích không gian: đây là chứ năng quan trọng nhất của GIS làm cho nó khác với các hệ thống khác.
Phân tích không gian cung cấp các chức năng như nội suy không gian, tạo vùng đệm, chồng lớp. 12 Hiển thị kết quả: một trong những khía cạnh nổi bậc của GIS là có nhiều cách hiển thị thông tin khác nhau. Phương pháp truyền thống bằng bảng biểu và đồ thị được bổ sung với bản đồ và ảnh ba chiều. Hiển thị trực quan là một trong những khả năng đáng chú ý nhất của GIS, cho phép người sử dụng tương tác hữu hiệu với kết quả.
MÔ HÌNH THỦY LỰC HEC-RAS VÀ CÔNG CỤ HEC-GEORAS 1. Mô hình thủy lực HEC-RAS Mô hình HEC-RAS được xây dựng bởi trung tâm nghiên cứu Thủy văn thuộc hiệp hội kỹ sư quân đội Mỹ - HEC (Hydrolic Engineering Center, U. Army Corps Engineers). Việc phát triển mô hinh HEC-RAS nằm trong một chương trình phát triển đồng bộ các mô hình bao gồm: phân tích mưa rào-dòng chảy, phân tích thủy lực sông, diễn toán hồ chứa, phân tích thiệt hại do lũ, dự báo thời tiết hồ chứa.
HEC-RAS là phần mềm tổng hợp có tính hệ thống. Phần mềm bao gồm giao diện đồ họa, các thành phần tính thủy lực riêng biệt, hệ thống lưu trữ số liệu và công cụ quản lý các phương tiện vẽ đồ họa và kết xuất kết quả. HEC-RAS được xây dựng để trình diễn quá trình tính thủy lực một chiều co mạng lưới sông suối tự nhiên hay nhân tạo. Mô hình HEC-RAS có khả năng mô phỏng đặc tính thủy lực của dòng nước (lưu lượng và mực nước).
HEC-RAS sẽ mô phỏng dòng chảy trong hệ thống sông có sự tương tác 2 chiều giữa dòng chảy trong sông và dòng chảy cùng đông bằng lũ. Khi mực nước trong sông dâng cao, nước sẽ tràn qua bãi gây ngập đồng bằng, khi mực nước trong sông hạ thấp, nước sẽ chảy lại vào sông, từ các quá trình đó, HEC-RAS có thể mô phỏng được độ sâu cũng như diện ngập của lưu vực. Công cụ HEC-GeoRAS Công cụ HEC-GeoRAS là mô đun được tích hợp giữa dữ liệu GIS và kết quả mô phòng thủy lực bằng mô hình HEC-RAS. Công cụ HEC-GeoRAS được chạy trên môi trường ArcGIS với một giao diện mang tính hệ thống hơn khi mô phỏng mạng thủy lực trong HEC-RAS.
Đầu vào của HEC-geoRAS bên cạnh thông tin từ một mô hình HEC-RAS và DEM, còn có các loại bản đồ hữu ích khác như cơ sở hạ tầng, loại tài sản, bản đồ sử dụng đất, 13 vv… để đưa ra kết quả mô phỏng ngập lụt về độ sâu ngập, diện ngập, và thời gian ngập nhằm xây dựng bản đồ ngập lụt để từ đó tính toán thiệt hại do ngập lụt gây nên. HEC-GeoRAS dựa trên trao đổi “dữ liệu hai chiều“ giữa HEC-RAS và ArcGIS. HEC-GeoRAS sử dụng dữ liệu thu thập từ mạng lưới sông, mặt cắt ngang cấu hình từ mô hình số độ cao(DEM). HEC-GeoRAS xây dựng một mặt lưới nước và so sanh trên dữ liệu này với DEM để tạo độ sâu ngập lụt và thời gian dựa trên thông tin riêng lấy từ HEC-RAS.
14 CHƢƠNG II: DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP 2. THU THẬP DỮ LİỆU Thu thập và xử lý số liệu là công đoạn đầu tiên trước khi tiến hành tính toán xây dựng một mô hình toán. Dựa trên các mô hình sử dụng tiến hành thu thập và xử lý các loại tài liệu, số liệu có liên quan phục vụ tính toán. Trong đề tài sử dụng mô hình thủy lực HEC–RAS và HEC–GeoRAS do vậy các loại tài liệu yêu cầu bao gồm bản đồ số độ cao (DEM), bản đồ sử dụng đất, số liệu khí tượng thủy văn.
Tài liệu mô hình số độ cao (DEM) Trong quá trình phân định lưu vực, dữ liệu DEM của lưu vực sông Sê San được sử dụng. Dữ liệu DEM đựợc đăng kí hệ tọa độ UTM WGS 84 múi 48 tương ứng với vị trí của lưu vực sông Sê San. Sau đó, dữ liệu DEM được đưa vào ArcGIS. Tiến hành chồng lớp dữ liệu mạng lưới sông Sê San vào bản đồ DEM, qua đó có thể dễ dàng xác định được mạng lưới sông cần tiến hành nghiên cứu cùng với các số liệu liênquan Hình 2.1: Vị trí sông Sê San 15 2.
Tài liệu thủy văn 2. Lưu lượng dòng chảy Thống kê lưu lượng dòng chảy trung bình theo ngày trong tháng 9 và 10 năm 2009 tại các nhánh sông vùng hạ lưu lưu vực sông Sê San được thể hiện lần lượt tại Bảng 2.2 Ngày Lƣu lƣợngdòngchảy(m3/s) Ngày Lƣu lƣợngdòngchảy(m3/s) 9/1/2009 156.1: Bảng lƣu lƣợng dòng chảy tại biên dƣới hạ lƣu lƣu vực sông Sê San giai đoạn tháng 9 và tháng 10 năm 2009 (đơn vị m3/s) 16 Lƣu Lƣu Ngày Ngày lƣợngdòngchảy(m3/s) lƣợngdòngchảy(m3/s) 9/1/2009 25. 2: Lƣu lƣợng dòng chảytại biên trên hạ lƣu lƣu vực sông Sê San giai đoạn tháng 9 và 10 năm 2009 (đơn vị m3/s) 2. Độ cao mực nước Độ cao mực nước theo ngày trong các tháng 9 và 10 năm 2009 tại các nhánh sông vùng hạ lưu lưu vực sông Sê San được thể hiện tại Bảng2.3 17 Độ cao mặt nƣớc Độ cao mặt nƣớc Ngày Ngày (m) (m) 9/1/2009 0.
3 Độ cao mực nƣớc tại biên dƣới hạ lƣu lƣu vực sông Sê San giai đoạn tháng 9 và tháng 10 năm 2009 (đơn vị m) 2. Dữ liệu sử dụng đất Xác định được hệ số nhám (Manning) có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tính toán thủy lực trong lòng dẫn hở, ảnh hưởng đến sự chính xác khi tính toán mô hình, cũng tùy theo từng loại địa hình và trường hợp mà hệ số nhám khác nhau. Hệ số nhám phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ nhám bề mặt, cây cỏ xung quanh mặt cắt lòng dẫn, hình dạng 18 lòng dẫn (lòngsông).