Chương 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề Nghiên cứu vấn đề nhà ở cho người lao động ở các khu công nghiệp (KCN) là vấn đề đang được sự quan tâm đặc biệt, là sự đòi hỏi từ thực tiễn xây dựng và phát triển các KCN nói riêng và trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung. Sau đây, xin tổng quan một số nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề này. Các nghiên cứu quốc tế về giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp Thứ nhất, về hình thức sở hữu, sử dụng và các quy chuẩn về nhà ở của người lao động trong khu công nghiệp Trong tác phẩm Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh (1995) [14], Ph.Ăngghen đã chú ý nghiên cứu điều kiện sinh hoạt của giai cấp vô sản Anh trong giai đoạn giữa thế kỷ XIX, làm sáng tỏ vai trò đặc biệt của giai cấp vô sản trong xã hội tư sản.Ăngghen, cuộc cách mạng công nghiệp đã đưa giai cấp lao động vào những điều kiện sinh hoạt khác hẳn trước đây, đó là, sự tập trung sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sự phát sinh và phát triển của giai cấp đại tư sản công nghiệp và của giai cấp vô sản công nghiệp.
Trong khi bàn đến sự thay đổi về điều kiện sinh hoạt của giai cấp vô sản Anh, Ph.Ăngghen cũng đã bàn đến sự thay đổi về sở hữu nhà ở, việc khó khăn trong tìm, thuê nhà ở của giai cấp vô sản Anh. Trong tác phẩm Về vấn đề nhà ở (1995) [15] - một trong số những tác phẩm cơ bản của chủ nghĩa Mác - công bố từ tháng 5 năm 1872 đến tháng 1 năm 1873, Ph.Ăngghen đã luận chiến gay gắt chống lại các đề án tư sản và tiểu tư sản về việc giải quyết vấn đề nhà ở, trong đó ông phê phán những biện pháp bác ái tư sản nhằm giải quyết vấn đề nhà ở hết sức đầy đủ trong cuốn sách của E.Dacxo “Những điều 8 kiện cư trú của các giai cấp lao động và việc cải cách những điều kiện đó”.Ăngghen cho rằng, nạn khan hiếm nhà ở, nạn khủng hoảng nhà ở là sản phẩm tất yếu của hình thái xã hội tư sản. người ta chỉ có thể loại trừ được nạn khủng hoảng nhà ở cũng như những hậu quả của nó đối với sức khỏe, v., khi đã hoàn toàn thay đổi toàn bộ trật tự xã hội đã sản sinh ra nạn khủng hoảng đó. Trong bài viết về: Cung cấp nhà ở cho công nhân nhà máy (Housing provision for factory workers) được Liliany S.Arifin (2004) [90], khẳng định những nhu cầu bức thiết về vấn đề nhà ở của công nhân các nhà máy công nghiệp ở các quốc gia trên thế giới.
Trên thực tế ở châu Âu vào thế kỷ XVIII, châu Á vào thế kỷ XX, quá trình công nghiệp hóa đã dẫn đến những vấn đề nhà ở hết sức nghiêm trọng như: thiếu nhà ở cho người lao động thu nhập thấp, nhà ở không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh môi trường… nhưng chỉ nhận được rất ít sự quan tâm của các công ty cũng như Chính phủ. Những vấn đề liên quan đến cung ứng nhà ở cho người lao động tại khu công nghiệp do Liliany S.Arifin đặt ra đã từng được các nhà khoa học như Rahman (1993) [93], Chia (1981) [81]. Nghiên cứu của IFC (2009) [85] tiếp tục làm rõ những nội dung liên quan đến vấn đề nhà ở cho người lao động làm việc các KCN. Thứ hai, về vai trò nhà nước trong giải quyết nhà ở cho người lao động Haryana Government (2010) [83] đã làm rõ vai trò của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương trong việc thu hút các doanh nghiệp vào làm việc các KCN cũng như xây dựng và tổ chức thực thi các chính sách liên quan đến giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động làm việc tại khu vực này trong đó nhấn mạnh đến việc xây những nhà ở độc thân cho người lao động làm việc các KCN; Kim, Kyeong-Duk (1996; 2012) [87; 88] đã phân tích sự cần thiết của việc nhà nước phải can thiệp để giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động làm việc các KCN cũng như các biện pháp chính sách mà quốc gia này đã sử dụng để hỗ trợ người lao động dù đơn thân hay cùng gia đình di cư ra làm việc các KCN nơi đô thị đều có khả năng sở hữu, hoặc thuê để ở trong những ngôi nhà phù hợp với hoàn cảnh của họ.
Các nghiên cứu trong nước về giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp Thứ nhất, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp Nguyễn Ngọc Dũng, Một số vấn đề xã hội - Trong xây dựng và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam (2005) [47] đã chỉ ra, trong xây dựng và phát triển các KCN ở Việt Nam đang còn nảy sinh một số các vấn đề xã hội. Việc xây dựng các KCN mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng đồng thời phát sinh hàng loạt vấn đề tác động đến môi trường sống, sinh hoạt của cư dân đô thị. Nó đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ giữa phát triển KCN với xây dựng hệ thống hạ tầng xã hội (nhà ở, y tế, văn hóa, giáo dục, vui chơi giải trí, môi trường đô thị. Việc thu hút lao động vào các khu công nghiệp đã bước đầu tạo nên các hiện tượng di dân cơ học, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ với số lượng lớn từ các địa phương khác mà chủ yếu từ các vùng nông thôn vào các địa bàn có khu công nghiệp đã tạo nên sức ép lớn về nhà ở và các công trình phục vụ xã hội như trường học, bệnh viện.
cho người lao động. Vì vậy, việc quy hoạch xây dựng khu công nghiệp ngoài việc tổ chức khu sản xuất, khu các công trình kỹ thuật phục vụ sản xuất, đồng thời cần phải tổ chức hệ thống công trình dịch vụ xã hội nhằm đảm bảo tốt cho môi trường lao động, sinh hoạt cho người lao động KCN. Hệ thống các công trình phục vụ công cộng của KCN được hình thành như một bộ phận của hệ thống phục vụ công cộng của đô thị. Trong bài Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 (2010) [48], Nguyễn Tấn Dũng đã phân tích những nội dung cơ bản về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội nhằm khẳng định là một trong những nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.
Tác giả khẳng định, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội không chỉ là bảo vệ quyền 10 của mỗi con người, mà còn là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, mức độ, quy mô, phạm vi an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của các nước có sự khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm, chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển và chính sách của mỗi quốc gia. Trong bài Xây dựng nhà ở cho người lao động trong KCN: Góp phần đảm bảo an sinh xã hội, Khổng Thành Công (2011) [34], cho rằng, để phát triển công nghiệp bền vững, ổn định (điển hình ở Vĩnh Phúc), các KCN có sự phát triển như mong muốn thì cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có vấn đề giải quyết nhà ở cho người lao động để họ yên tâm gắn bó với doanh nghiệp, ngoài việc tạo môi trường làm việc tốt, thu nhập và công việc ổn định cho người lao động, cần phải quan tâm đến nơi ăn ở, sinh hoạt của họ.
Hiện nay, việc triển khai xây dựng nhà ở trong KCN cũng gặp phải một số khó khăn như: nguồn vốn đầu tư lớn nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp khó khăn do nguồn vốn hạn chế; việc tiếp cận các nguồn vốn vay của doanh nghiệp gặp khó khăn, chính sách thắt chặt tiền tệ, lãi suất cho vay của ngân hàng cao. vì vậy, phải có chủ trương, giải pháp đồng bộ về việc giải quyết chỗ ở cho công nhân các KCN. Vũ Quốc Huy trong bài Nhà ở cho người lao động các KCN (2014) [76] đã cho rằng sự phát triển các KCN, khu chế xuất (KCX) ở Việt Nam đã đem lại nhiều mặt tích cực cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của các KCN, KCX không những tạo động lực to lớn cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy quá trình tiếp thu công nghệ cao, hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra khối lượng lớn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Tuy nhiên, hiện nay các KCN đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó nổi bật là vấn đề xây dựng và phát triển nhà ở cho người lao động các KCN. Theo tác giả, trong thời gian tới cần có những cơ chế, chính sách ưu đãi hơn nữa, đặc biệt, là hỗ trợ tài chính để phát triển nhà ở cho người lao động tại các địa phương. Nguyễn Bá Ngọc và Bùi Xuân Dự trong bài Một số vấn đề lý luận trong khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội (2011) [43] đã bàn về một số vấn đề lý luận trong khả 11 năng tiếp cận dịch vụ xã hội, theo các tác giả: một người nghèo ở miền núi được cấp thẻ bảo hiểm y tế nhưng không được sử dụng khi đau ốm có thể vì không biết quyền lợi được hưởng, cơ sở y tế quá xa, hay chỉ là khó chịu với thái độ của bác sĩ. Một người nông dân có chút dư dật muốn được bảo đảm cuộc sống khi già nhưng không tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thể vì thiếu thông tin, thu nhập không ổn định hay vì lo ngại đồng tiền mất giá.