Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đặc trưng bản chất của nhận thức lịch sử trong nhà trường phổ thông là học sinh không thể tri giác trực tiếp các sự kiện đã diễn ra trong quá khứ, đồng thời không thể tái tạo lịch sử trong phòng thí nghiệm. Do đó, việc lĩnh hội tri thức lịch sử phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình tái hiện quá khứ thông qua các nguồn sử liệu gián tiếp. Trong chương trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục trước đây, kênh hình hầu như chưa được chú trọng đúng mức, chủ yếu chỉ đóng vai trò minh họa phụ trợ cho kênh chữ, khiến giáo viên dạy học thiên về thuyết trình một chiều, giờ học nặng nề và khô cứng. Chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 Trung học phổ thông (THPT) đổi mới từ năm 2006 đã gia tăng đáng kể số lượng và chất lượng kênh hình, biến hệ thống hình ảnh thành một nguồn cung cấp tri thức độc lập và quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế giảng dạy, đa số giáo viên vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của kênh hình, chưa hướng dẫn học sinh phương pháp tự chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng bộ môn qua tranh ảnh, lược đồ.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Nguyễn Văn Sơn đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Lịch sử (Bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 2007 - 2011, người hướng dẫn khoa học: ThS. Nhữ Thị Phương Lan) với đề tài: "Khai thác và sử dụng kênh hình sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh".

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở xác lập hệ thống lí luận về đồ dùng trực quan và kênh hình sách giáo khoa, khóa luận đi sâu khảo sát thực trạng, phân loại và khai thác nội dung hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT (Ban Cơ bản), từ đó đề xuất các biện pháp sư phạm cụ thể nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong giờ học nội khóa.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ cụ thể theo văn bản):

  1. Tìm hiểu cơ sở lí luận của các nhà giáo dục học và giáo dục lịch sử về việc sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình sách giáo khoa nói riêng trong dạy học lịch sử.
  2. Tìm hiểu thực tiễn việc sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa tại các trường THPT hiện nay, chất lượng giảng dạy bộ môn và tình hình hứng thú học tập lịch sử của học sinh.
  3. Phân tích chương trình, nội dung sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT (Ban Cơ bản) để khai thác nội dung lịch sử chứa đựng trong kênh hình và đề xuất các biện pháp sư phạm sử dụng tương ứng.
  4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường phổ thông để kiểm chứng và khẳng định tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình khai thác và sử dụng hệ thống kênh hình (tranh ảnh, chân dung nhân vật, lược đồ lịch sử) trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung khảo sát 79 kênh hình thuộc sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT - Ban Cơ bản (chủ yếu đi sâu vào phần Lịch sử thế giới cổ - trung - cận đại) áp dụng trong các giờ học chính khóa; địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lí luận về nhận thức học, tâm lí học lứa tuổi và phương pháp dạy học bộ môn lịch sử:

  • Bản chất nhận thức lịch sử và luận điểm nhận thức: Nghiên cứu quán triệt luận điểm triết học của V.I. Lênin về con đường biện chứng của nhận thức chân lí: "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn". Do tính phi lặp lại và tính quá khứ của sự kiện, việc hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh phải trải qua sơ đồ: Cung cấp sự kiện $\rightarrow$ Tạo biểu tượng lịch sử $\rightarrow$ Hình thành khái niệm $\rightarrow$ Nêu quy luật, bài học $\rightarrow$ Vận dụng tri thức vào đời sống dưới sự dẫn dắt của giáo viên.
  • Tâm lí học lứa tuổi học sinh THPT (14 - 18 tuổi): Ở giai đoạn này, học sinh đã phát triển tư duy trừu tượng, tư duy lí luận độc lập, có óc hoài nghi khoa học, thích tranh luận, phát hiện mâu thuẫn và hình thành định hướng nghề nghiệp. Do đó, phương pháp dạy học cần chuyển đổi từ áp đặt ghi nhớ máy móc sang tạo tình huống có vấn đề để học sinh tự phân tích, tổng hợp.
  • Vai trò của phương tiện trực quan theo các cứ liệu thực nghiệm: Khóa luận trích dẫn nguyên tắc trực quan của J. Komenxki; số liệu của Phòng thí nghiệm đào tạo quốc gia tại Bethel (Maine, Mĩ) về độ bền kiến thức sau 6 tháng (đọc: 10%, nghe: 20%, nhìn: 30%, làm: 50%, thảo luận: 70%, môi trường công nghệ đa phương tiện: 90%); số liệu của UNESCO (nhớ 15% khi nghe, 25% khi nhìn, 65% khi kết hợp nghe - nhìn); nghiên cứu của B. Collum (Ấn Độ) về tỉ lệ lưu giữ tri thức khi kết hợp lời nói và hình ảnh tổ chức cho học sinh tự khám phá; khẳng định 83% lượng thông tin tri giác qua thị giác - thính giác.
  • Khái niệm và mối quan hệ kênh hình - kênh chữ: Kênh hình bao gồm biểu đồ, lược đồ, tranh ảnh, chân dung, sa bàn... bổ sung cho bài viết, có giá trị tương đương một nguồn cung cấp thông tin trực quan độc lập. Khóa luận cũng chỉ rõ khái niệm kênh hình "chìm" (các số liệu, dữ liệu ẩn trong bài có thể dựng thành đồ dùng trực quan).
  • Hệ thống 5 nguyên tắc sư phạm khi sử dụng kênh hình:
    1. Sử dụng kênh hình phải đáp ứng mục tiêu dạy học (giáo dưỡng, giáo dục, phát triển).
    2. Sử dụng kênh hình phải làm nổi bật nội dung cơ bản của bài học.
    3. Sử dụng kênh hình phải góp phần phát triển năng lực nhận thức, hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành bộ môn.
    4. Sử dụng kênh hình phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh.
    5. Sử dụng kênh hình phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp dạy học khác.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp giáo dục học: Đóng vai trò chủ đạo, định hướng việc phối hợp các nguồn lực sư phạm, phương tiện trực quan và công nghệ thông tin.
  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Tiếp cận sự kiện theo tiến trình thời gian (nguyên thủy, cổ đại, trung đại, cận đại) và trình bày hệ thống lí luận - thực tiễn một cách chặt chẽ.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu an-két: Lập phiếu hỏi lấy ý kiến của 13 giáo viên lịch sử và 285 học sinh tại 3 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (THPT Trần Khai Nguyên, THPT Lương Thế Vinh, THPT Nguyễn Thái Bình).
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án, tổ chức dạy thực nghiệm và đối chứng tại trường THPT Trần Khai Nguyên (Quận 5, TP.HCM).
  • Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh: Xử lý số liệu khảo sát và kết quả định lượng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở khoa học của việc khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương I làm rõ nền tảng lí luận và bức tranh thực tiễn về việc sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử ở cấp THPT:

  1. Cơ sở lí luận: Phân tích 3 đặc trưng nhận thức lịch sử của học sinh (tính gián tiếp, tính lãnh đạo - được hướng dẫn, tính giáo dục); phân tích cấu trúc chương trình theo nguyên tắc "đồng tâm kết hợp đường thẳng" khiến kiến thức đi từ xa đến gần, dẫn đến học sinh dễ quên nếu chỉ dạy chay; phân tích 3 nhiệm vụ dạy học lịch sử (giáo dưỡng, giáo dục tư tưởng, phát triển năng lực tư duy - hành động). Phân tích 5 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khai thác kênh hình: phương pháp dạy học của giáo viên; nhiệm vụ học tập của học sinh; đặc điểm tâm lí lứa tuổi; thái độ và kỹ năng sư phạm của giáo viên; cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học.

  2. Cơ sở thực tiễn (Khảo sát 13 giáo viên và 285 học sinh): Số liệu khảo sát phản ánh sự chênh lệch rõ rệt giữa nhận thức lí thuyết và hành vi sư phạm trên lớp học:

Tiêu chí khảo sát Nhóm đối tượng Kết quả thống kê từ phiếu điều tra
Nhận thức về vai trò của kênh hình Giáo viên ($n=13$) 100% đánh giá có vai trò minh họa nội dung sự kiện; 77% cho rằng giúp học sinh nắm vững kiến thức, giáo dục tư tưởng và rèn óc quan sát; 15% chỉ xem là phương tiện gây hứng thú/quan sát; 8% chỉ xem là giáo dục tình cảm.
Mức độ hiểu nội dung kênh hình SGK Giáo viên ($n=13$) 54% giáo viên hiểu hết nội dung kênh hình; 46% hiểu chưa đầy đủ do ảnh đen trắng, kích thước nhỏ và thời lượng bài học quá dài.
Thực tế sử dụng kênh hình của GV Giáo viên ($n=13$) 54% tận dụng mọi kênh hình; 46% không khai thác hết; 82% chỉ sử dụng khi dạy kiến thức mới; 100% thừa nhận việc sử dụng vẫn mang tính minh họa hình thức, giới thiệu qua loa.
Hứng thú của học sinh với môn Lịch sử Học sinh ($n=285$) 23% rất thích/thích học; 68% giữ thái độ bình thường; 9% không thích học môn Lịch sử.
Thái độ của HS khi GV dùng kênh hình Học sinh ($n=285$) 71% cảm thấy giờ học rất hấp dẫn và dễ hiểu; 27% cảm thấy bình thường (do giáo viên làm việc qua loa); 2% không quan tâm.
Tần suất GV hướng dẫn HS khai thác KH Học sinh ($n=285$) 18% trả lời giáo viên thường xuyên hướng dẫn; 68% trả lời đôi khi; 14% phản ánh giáo viên hoàn toàn không chú ý đến kênh hình.

Thực trạng cho thấy phần lớn tranh ảnh, bản đồ được cấp phát vẫn nằm trong thư viện hoặc chỉ được dùng trong các tiết thao giảng có người dự giờ, dẫn đến học sinh học vẹt, học thuộc lòng mà không hiểu bản chất, dẫn đến hiện tượng "hiện đại hóa" lịch sử.


Chương II: Khai thác và sử dụng kênh hình SGK Lịch sử lớp 10 THPT theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Chương II đi sâu phân tích cấu trúc sách giáo khoa, thống kê phân loại hệ thống kênh hình và xây dựng các quy trình khai thác bài học cụ thể:

  1. Khái quát sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT (Ban Cơ bản): Sách được cải tiến in khổ $17 \times 24\text{ cm}$ (thay vì khổ cũ $14{,}3 \times 20{,}3\text{ cm}$), cấu trúc gồm 3 phần: Phần 1 (Lịch sử thế giới cổ đại và trung đại), Phần 2 (Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX - chiếm 16 tiết thay vì 4 tiết như trước), Phần 3 (Lịch sử thế giới cận đại). Nội dung đảm bảo tính toàn diện trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng, khoa học - kỹ thuật.

  2. Phân loại 79 kênh hình trong SGK Lịch sử 10 (Ban Cơ bản):

  • Lược đồ lịch sử: Chiếm 14/79 kênh hình (tỉ lệ 11,06%), gồm lược đồ tổng hợp (thể hiện không gian, biên giới một hoặc nhiều quốc gia qua các thời kỳ) và lược đồ chuyên đề (thể hiện diễn biến trận đánh, phân bố kinh tế). Khóa luận phân tích chi tiết lược đồ tiêu biểu như Hình 16 - Lược đồ Ấn Độ thời cổ đại (làm rõ vị trí địa lí bán đảo hình tam giác, ranh giới dãy Himalaya, đèo Bô-lan, Tác-xi-la qua Ca-bun sang dãy Hin-đu-cúc, hai lưu vực sông Ấn - Indus và sông Hằng - Ganga, quá trình thống nhất dưới thời vương triều Mô-ri-a năm 321 TCN của San-đra-gúp-ta đóng đô tại Pa-ta-li-pu-tra).
  • Tranh ảnh lịch sử: Phản ánh hiện vật, công cụ lao động, thành tựu kiến trúc, đời sống xã hội.
  • Chân dung nhân vật lịch sử: Thể hiện diện mạo các danh nhân, vua chúa, nhà tư tưởng, nhà phát minh gắn liền với các bước ngoặt lịch sử.
  1. Hệ thống 6 biện pháp khai thác kênh hình phát huy tính tích cực:
  • Biện pháp 1: Khai thác kênh hình với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (máy chiếu, projector, phóng to chi tiết, tích hợp phim tư liệu).
  • Biện pháp 2: Kết hợp lời nói của giáo viên và hoạt động đàm thoại của học sinh khi quan sát hình ảnh.
  • Biện pháp 3: Kết hợp lược thuật diễn biến, sử dụng lược đồ với hoạt động trao đổi nhóm.
  • Biện pháp 4: Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở gắn với định hướng dẫn dắt học sinh tự khai thác nội dung ẩn chứa trong hình.
  • Biện pháp 5: Kết hợp kênh hình trong SGK với tư liệu trực quan ngoài sách giáo khoa (vật mẫu, hiện vật bảo tàng, tranh ảnh bổ sung).
  • Biện pháp 6: Phối hợp tài liệu tham khảo và phương pháp gợi mở để cụ thể hóa, sâu sắc hóa kiến thức.
  1. Thiết kế tiến trình khai thác kênh hình qua 8 bài học thực tế: Khóa luận soạn thảo chi tiết phương án tổ chức dạy học có khai thác kênh hình cho các bài: Bài 3 (Các quốc gia cổ đại phương Đông), Bài 4 (Các quốc gia cổ đại phương Tây Hi Lạp và Rô-ma), Bài 5 (Trung Quốc thời phong kiến), Bài 11 (Tây Âu thời hậu kì trung đại), Bài 29 (Cách mạng Hà Lan và Cách mạng tư sản Anh), Bài 31 (Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII), Bài 32 (Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu), Bài 33 (Hoàn thành cách mạng tư sản ở Châu Âu và Mĩ giữa thế kỉ XIX).

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

  1. Mục đích và nội dung thực nghiệm: Kiểm nghiệm tính khả thi, tính đúng đắn và hiệu quả giáo dục của hệ thống biện pháp khai thác kênh hình đã xây dựng trong Chương II; đối chiếu kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm (áp dụng biện pháp mới) và lớp đối chứng (dạy theo phương pháp truyền thống).
  2. Địa bàn và đối tượng thực nghiệm: Tiến hành tại Trường THPT Trần Khai Nguyên, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh. Khóa luận chọn 2 lớp học có trình độ tương đương: lớp 10A1 và lớp 10A6, với sự phối hợp chuyên môn của giáo viên bộ môn tại trường (cô Bùi Thị Thùy Linh và thầy Bùi Văn Tịnh).
  3. Quy trình và phương pháp đánh giá: Xây dựng giáo án thực nghiệm có sử dụng máy chiếu, hệ thống câu hỏi định hướng khai thác kênh hình, tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm và tự trình bày nội dung lược đồ/tranh ảnh; sau bài học tiến hành kiểm tra đánh giá mức độ ghi nhớ sự kiện, khả năng hiểu bản chất và rèn luyện kỹ năng bộ môn của học sinh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Khảo sát định lượng chính xác: Khóa luận xác lập hệ thống dữ liệu thực trạng dạy học lịch sử tại các trường THPT ở TP. Hồ Chí Minh với mẫu khảo sát 13 giáo viên và 285 học sinh; chỉ ra 46% giáo viên chưa nắm hết nội dung kênh hình và 100% việc sử dụng còn mang tính hình thức minh họa.
  • Phân loại toàn diện 79 kênh hình: Đã thống kê và phân loại đầy đủ 79 kênh hình của SGK Lịch sử 10 Ban Cơ bản (gồm 14 lược đồ chiếm 11,06%, tranh ảnh di tích/hiện vật và chân dung nhân vật), đồng thời giải mã chi tiết nội dung lịch sử chuyên sâu của từng hình.
  • Xác lập 6 biện pháp sư phạm đồng bộ: Đề xuất quy trình 6 biện pháp khai thác kênh hình gắn liền với việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, ứng dụng công nghệ thông tin và phương pháp đàm thoại gợi mở.
  • Kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm thành công tại các lớp 10A1 và 10A6 Trường THPT Trần Khai Nguyên, chứng minh việc hướng dẫn học sinh chủ động làm việc với kênh hình giúp nâng cao rõ rệt mức độ hứng thú học tập và chất lượng tiếp thu kiến thức so với lối dạy đọc - chép truyền thống.

Giải pháp và khuyến nghị tác giả đề xuất

  • Đối với giáo viên: Cần đầu tư thời gian nghiên cứu xuất xứ, nội dung và ý nghĩa lịch sử của từng bức tranh, lược đồ trong SGK; từ bỏ quan niệm xem kênh hình chỉ là phương tiện minh họa phụ; tăng cường đặt câu hỏi nêu vấn đề, hướng dẫn học sinh tự quan sát và rút ra nhận xét thay vì giảng giải áp đặt.
  • Đối với học sinh: Phải chủ động chuẩn bị bài, tự rèn luyện kỹ năng quan sát, tra cứu thông tin từ chú thích tranh ảnh và lược đồ, tích cực tham gia thảo luận nhóm để chiếm lĩnh kiến thức.
  • Đối với nhà trường và ngành giáo dục: Cần trang bị đồng bộ phương tiện trình chiếu (máy tính, projector), cải thiện không gian phòng học, bổ sung bản đồ, tranh ảnh khổ lớn cho thư viện trường học và bố trí thời lượng giảng dạy phù hợp nhằm giảm tải áp lực chương trình.

Đóng góp tự nêu của đề tài

Khóa luận đã hệ thống hóa và cụ thể hóa các quan điểm lí luận dạy học trực quan vào đối tượng cụ thể là sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT (Ban Cơ bản); khắc phục khoảng trống của các công trình đi trước (vốn chủ yếu nghiên cứu cấp THCS hoặc lớp 11) bằng cách cung cấp cẩm nang phân tích nội dung và giáo án mẫu khai thác kênh hình cho 8 bài học trọng tâm phần Lịch sử thế giới lớp 10.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:

    • Do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu của sinh viên, khóa luận chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT - Ban Cơ bản, chưa mở rộng sang chương trình Lịch sử lớp 10 Ban Nâng cao.
    • Về mặt nội dung bài học, khóa luận mới chỉ tập trung soạn giáo án và khai thác sâu hệ thống kênh hình của phần Lịch sử thế giới (các bài 3, 4, 5, 11, 29, 31, 32, 33), chưa đi sâu vào toàn bộ 16 tiết của phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX.
    • Quy mô thực nghiệm sư phạm mới được triển khai tại một trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (THPT Trần Khai Nguyên).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Mở rộng phạm vi khai thác toàn diện hệ thống kênh hình phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 và chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 11, lớp 12.
    • Nghiên cứu so sánh phương pháp sử dụng kênh hình giữa chương trình Chuẩn (Cơ bản) và chương trình Nâng cao.
    • Phát triển các phần mềm hỗ trợ dạy học đa phương tiện chuyên biệt, số hóa tư liệu và xây dựng ngân hàng câu hỏi tương tác trên nền tảng kênh hình lịch sử.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử tại các trường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm dùng làm tài liệu học tập bộ môn Phương pháp dạy học Lịch sử và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
    • Giáo viên Lịch sử tại các trường THPT dùng làm tài liệu tham khảo trực tiếp khi soạn giáo án bài học lớp 10 (đặc biệt là 8 bài học lịch sử thế giới cổ - trung - cận đại).
    • Học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử tham khảo về khung phương pháp khảo sát thực trạng và quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Bản phân tích xuất xứ, bối cảnh và kiến thức lịch sử chi tiết đằng sau 14 lược đồ và các bức tranh hiện vật/chân dung trong sách giáo khoa Lớp 10 Ban Cơ bản (tiêu biểu như phân tích lược đồ Ấn Độ cổ đại, lược đồ các cuộc phát kiến địa lí, cách mạng tư sản).
    • Hệ thống câu hỏi gợi mở mẫu kết hợp công nghệ thông tin giúp chuyển đổi giờ học từ thuyết trình thụ động sang tổ chức hoạt động tự học cho học sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận thống kê có bao nhiêu kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 (Ban Cơ bản) và cơ cấu ra sao?
Khóa luận xác định sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 (Ban Cơ bản) có tổng cộng 79 kênh hình. Trong đó, lược đồ lịch sử có 14 hình (chiếm tỉ lệ 11,06% tổng số kênh hình), phần còn lại là hệ thống tranh ảnh di tích, hiện vật lịch sử và chân dung các nhân vật lịch sử.

2. Khảo sát thực trạng của khóa luận cho thấy tỉ lệ giáo viên hiểu hết và thường xuyên khai thác kênh hình là bao nhiêu?
Khảo sát 13 giáo viên lịch sử tại 3 trường THPT ở TP.HCM cho thấy: chỉ có 54% giáo viên hiểu hết nội dung kênh hình trong SGK (46% hiểu chưa đầy đủ); 54% giáo viên tận dụng mọi kênh hình nhưng có tới 82% chỉ sử dụng kênh hình khi dạy kiến thức mới; 100% giáo viên thừa nhận việc sử dụng kênh hình trên thực tế vẫn mang tính chất minh họa hình thức, giới thiệu qua loa.

3. Khóa luận đề xuất bao nhiêu biện pháp sư phạm để khai thác kênh hình phát huy tính tích cực của học sinh?
Khóa luận đề xuất hệ thống 6 biện pháp sư phạm đồng bộ gồm: (1) Khai thác kênh hình với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin; (2) Kết hợp lời nói của giáo viên và học sinh khi sử dụng kênh hình; (3) Kết hợp lược thuật và sử dụng lược đồ với trao đổi nhóm; (4) Kết hợp câu hỏi gợi mở với hướng dẫn học sinh; (5) Kết hợp với tài liệu trực quan ngoài sách giáo khoa; (6) Kết hợp tài liệu tham khảo và gợi mở để cụ thể hóa kiến thức.

4. Khóa luận đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường nào, trên những lớp học nào?
Thực nghiệm sư phạm của khóa luận được tiến hành tại Trường THPT Trần Khai Nguyên, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh trên 2 lớp học có học lực tương đương là lớp 10A1 và lớp 10A6, dưới sự cộng tác của giáo viên bộ môn tại trường là cô Bùi Thị Thùy Linh và thầy Bùi Văn Tịnh.

5. Vì sao việc khai thác kênh hình lại giúp học sinh tránh được tình trạng "hiện đại hóa" lịch sử?
Theo lí luận của khóa luận, học sinh không thể tri giác trực tiếp sự kiện quá khứ nên dễ dùng tư duy và chuẩn mực của đời sống hiện đại để phán xét quá khứ (gọi là hiện đại hóa lịch sử). Việc khai thác kênh hình cung cấp các cứ liệu trực quan sinh động, chính xác về không gian, trang phục, công cụ lao động và di tích lịch sử, giúp học sinh hình thành biểu tượng lịch sử chân thực, từ đó hiểu đúng bản chất sự kiện trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Sơn là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, bám sát yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THPT thông qua việc khai thác tối đa giá trị của kênh hình sách giáo khoa lớp 10 Ban Cơ bản. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa hệ thống cơ sở lí luận sư phạm, số liệu điều tra thực trạng tại 3 trường THPT và kết quả kiểm chứng qua thực nghiệm tại THPT Trần Khai Nguyên, tác giả đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả của 6 biện pháp sư phạm đề xuất. Đề tài góp phần khẳng định kênh hình không chỉ là phương tiện minh họa trực quan đơn thuần mà là một nguồn tri thức độc lập, đóng vai trò then chốt trong việc phát huy tính tích cực nhận thức và nâng cao chất lượng học tập môn Lịch sử cho học sinh phổ thông.