CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CUA VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG KENH HÌNH TRONG DAY HỌC LICH SỬ Ở TRƯỜNG THPT I. CƠ SỞ LÍ LUẬN I1 Lịch sử và nhận thức lịch sử Lich sử theo quan niệm duy danh gồm hai phan là “lich và “sứ”; “lich” là thời gian, “sir” là kiện. Lich sử là ghỉ chép những sự kiện xay ra theo thời gian. Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khử không kẻ thời gian ngắn dài, mà những sự kiện ấy do con người và có liên quan đến những hoạt động của con người.
Trong đó, lịch sử mang những đặc trưng riéng so với những ngành học khác. Nếu như những mon học tự nhién, đổi tượng để học tập. tìm hiểu là đối tượng trực tiếp, ví như cơ thé ước lượng được sức hút của trái đất so với mặt trang, sự quay quanh mat trời của qua địa cầu (yếu tế vật lí). Có thé kiểm chứng được sức bật mạnh mẽ của mam cây, cầu tạo nội tang của cơ thé sinh vật (yếu tỏ sinh học), hay có thé thực nghiệm dé biết được tác dụng hóa học giữa đa chất - đơn chất, giữa những đơn chất với nhau (yếu tổ hóa học).
Và chúng ta có thé tính ngay được diện tích hay chu vi của một mảnh đất hình chữ nhật bằng cách đo chiều dai và chiều rộng của nó (yếu tế toán học). Như vậy, đối tượng của các môn học này là đối tượng trực tiếp. cụ thé, có thể kiếm nghiệm được đúng sai ngay trên sự vật hiện tượng, và có thẻ thực nghiệm lặp đi lặp lại nhiều Khoa học lịch sử nghiên cứu những sự kiến, hiện tượng xảy ra trong quá khứ, và hau như không lặp lại. chúng ta không thé đem trực tiếp bản thân sự vật hay những nhân vật.
sự kiện trong quá khử ra để mô xẻ một cách trực tiếp được. Nói vậy không có nghĩa là không nhận thức được lich sử. chúng ta cân phải có phương pháp năm bat quá khử gan như nó đã diễn ra, dé di gan tới chan lý lịch sử. Can có sự tìm hiểu vẻ tri thức nham rút ra những bài học quý báu cua quá khứ dân toc và nhân loại, nhận thức từng bước di của nhân loại theo thởi gian, hình thành nên tình cảm bộ môn.
Bắt cử một SVTH: Nguyễn Van Son Trang 16 Khoa luận tot nghiệp GVHD: ThŠ. Nhữ Thi Phương Lan dan toc nao, bat cứ một con người nao cũng đều có quá khử, đều có lịch sử, mot dan tộc đánh mat di lịch sử thì đó không còn là dân tộc nữa, dân tộc ay sẽ dan tro thành một “nhóm người” không biết mình là ai, rất dé bị đồng hóa, không có quá khử thi sẽ không có hiện tại, tương lai. Người giảng day lịch sứ can phải tái hiện lại lịch sử gan như nó đã diễn ra bằng nhiều cách, nhiêu phương pháp khác nhau đẻ ngày càng nang cao chất lượng giáo dục và giáo dường. Giúp học sinh tái hiện lại lịch sử cùng đông nghĩa với việc xây dựng biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra kinh nghiệm bai học và quy luật lịch sử.
Phải "ôn có duy tan” dé phục vụ hữu ích cho cuộc sông hôm nay và mai sau. Lénin đã từng nói: “Téi chi biết một khoa học duy nhất, đây là khoa học lịch sir”. Vì vậy, dé nằm bắt được chan lý lịch sử là một quá trình gian nan, tìm hiểu khổ luyện, nó đòi hỏi sự nỗ lực của chúng ta, sự nỗ lực của cả thay lẫn trò. Người thay can sử dụng nhiều phương pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
Học sinh thảo luận, làm việc, suy nghĩ, phat huy tư duy độc lập dé giải quyết van đẻ. Dé nhận thức lịch sử, nhà sử học cũng phải tuân thủ con đường nhận thuc chân lý khách quan. Tuy nhiên, do lịch sử là hiện thực của quá khứ, nên trong quá trình nhận thức lịch sử, chủ thể không thẻ trực tiếp tiếp xúc với đối tượng nghiên cửu, mà chỉ tiếp xúc gián tiếp với các sự kiện hiện tượng thông qua các tư liệu lịch sử. Quá trình nhận thức đó diễn ra như sau: Nhà sử học bất đầu hoạt động nghiên cứu bằng việc sưu tầm thu nhập tắt cả các tài liệu lịch sử liên quan dén van dé mà minh nghiên cứu dé năm lấy các sự kiện lịch sử cơ ban và thông qua các sự kiện lịch sử riêng lẻ đó, nhà sử học dựng lên bức tranh vẻ quá khứ tương đổi đây đủ của quá trình lịch sử mà minh đang nghiên cứu.
Giai đoạn nghiên cứu này lạm xem như tương ứng với giai đoạn trực quan sinh động. giải đoạn của cam giác, tri giác và biểu tượng, giai đoạn của nhận thức cảm tính. Tiếp theo là giai đoạn tư duy trừu tượng, giai đoạn của nhận thức lý tính. O giai đoạn này, dựa vào biểu tượng vẻ bức tranh hiện thực quá khử được xây dựng ở trên, nhà sử học tiên hành so sánh, phân tích, tong hợp các sự kiện, các yếu tô của mỗi sự kiện.
hiện tượng đẻ tìm ra những điểm khác nhau và giỏng nhau. thay được ban chat SVTH: Nguyễn Van Som Trang17 Khoa ludn tot nghiệp GVHD: Ths. Nhữ Thi Phicong Lan và các moi liên hệ cơ ban của các sự kiện, hiện tượng, qua trình lịch sử, sau do, trừu tượng, khái quát các dâu hiệu thuộc tính, mỗi liên hệ trên, để phát hiện những đặc trưng phô biến và bản chất, qui luật của chúng. Kết quả là nhà sử học hình thành những khái niệm lịch sử và những trí thức lịch sử được khám phá như: các môi liên hẻ, qui luật phát triển,.
của các sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử. Từ đó thay được sự biéu hiện của các qui luật lịch sử ở hiện tại và tương lai, rút ra được ý nghĩa, bài học lịch sử cho những hoạt động thực tiển. L2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT Ö giai đoạn học sinh THPT, lứa tudi của các em được quy định từ 14 - 18 tuổi, Ở lửa tuôi này, học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 10 nói riêng đã có sự hoàn thiện vẻ mặt thé chất. Đó là sự phát triển của bộ não và chức năng của hệ than kính đã tạo nên những điều kiện cần thiết cho sự phát triển hoạt động nhận thức của các em.
So với học sinh THCS, các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT đã có nhiều thay đổi vẻ chat. Tư duy trừu tượng của các em phát triển day đủ. Các em có khả nang tư duy lí luận và tư duy trừu tượng mot cách độc lap, sáng tạo trước những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học ở trường. Tư duy của các em chặt ché hơn, có căn cứ và nhất quán hơn.
Đồng thời ở các em tính phê phán của tư duy cũng phát triển. Tắt cả cho thấy các em có thể đào sâu suy nghĩ, phân tích những khái niệm, những qui luật và tim ra mỏi liên hệ nhân quả. Các em có thẻ so sánh, phân tích, tong hợp, trừu tượng và khái quát hóa van đẻ. Vì vậy, việc 4p dụng phương pháp dạy học nhằm nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh là rất can thiết.
Ở lửa tuổi THPT nói chung và học sinh lớp 10 nói riêng, các em có tính hoài nghi khoa học, các em thích đặt những câu hỏi nghi van, các câu hỏi phan đẻ. Điều đó sé giúp các em nhận thức chân lí một cách day dé và sâu sắc nhất. Ở lứa tudi này, các em không thích chip nhân một cách đơn giản những áp đặt cha giáo viên. Các em thích tranh luận vẻ những vẫn đẻ lí thuyết hay cuộc sỏng.
Khi tranh luận, các em thưởng bày tỏ ý kiện độc lập của mình ở lớp học, Các em thích thẻ hiện “cái tôi”, thích suy nghỉ, làm việc độc lập và có ý thức, trách nhiệm hơn. Các cm thích thẻ hiển và chứng minh SVTH: Nguyễn Văn Son | | — Trang 18 Khoa ludn tot nghiệp GVHD: ThS., Nhữ Thị Phicong Lan những suy nghĩ của mình. Tat ca điều đó cho thay sự phat triên mạnh mẽ của phâm chat tư đuy độc lập, một phẩm chat rat cần thiết cho sự phát triển tư duy sáng tạo. Vi vậy, giáo viên cần phải biết sử dụng các phương pháp có khả nang phát huy được tính tích cực (TTC), độc lập trong học tap của học sinh.
Tính chất độc lập và sáng tạo trong tư duy của học sinh chỉ được phát huy trong hoàn cảnh, tình huống có van đẻ. Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cản chú ý tạo ra những hoàn cảnh, tình hudng có van đẻ thông qua phương pháp dạy học nêu vấn đẻ, đàm thoại nêu van đẻ, phương pháp trao đôi nhóm. Trong quá trình đó, giáo viên cản giảm bởi thuyết giảng, trình bày những kiến thức làm sẵn. Giáo viên can khuyến khích học sinh trình bày những hiểu biết, suy nghĩ của mình.
Diéu đó không những có tác dụng thiết lập mỗi quan hệ hai chiều giữa thay và trò, giúp cho giáo viên kiểm tra được chất lượng công việc của mình mà còn giúp cho học sinh rèn luyện được những năng lực can thiết trong cuộc sông như biết trình bày một cách rành mạch, hợp với logic nội dung kiến thức. O lứa tuổi THPT, sự ghi nhở có chủ định đóng vai trò chủ đạo, đông thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ có ý nghĩa tăng lên rõ rệt (các em biết sử dụng tốt hơn phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh đối chiéu. Đặc biệt, các em đã tạo được tâm thẻ phân hóa trong ghi nhớ. Trí nhớ của các em không thiên về số lượng mà là chất lượng.
Các em biết tài liệu nào cần nhớ từng câu, từng chữ, tài liệu nào cin hiểu mà không cần nhớ,. Day cũng chính là vấn dé đòi hoi trong quá trình giảng dạy người giáo viên lịch sử không nên bắt buộc các em học thuộc lòng các kiến thức một cách máy móc. Những câu hỏi đặt ra cho các em, không nên chỉ thiên vẻ củng có kiến thức đã học, mà phải là những câu hỏi gợi mớ, có hệ thông dẫn dat các em đi tìm chân lí mới. Ở lứa tuổi này các em cũng đã hình thành hứng thú học tập theo khuynh hướng nghẻ nghiệp, các em sé thiên vẻ học các môn liên quan đến nghẻ nghiệp đã chọn và coi nhẹ các môn học khác.
Vì vậy, đòi hỏi giáo viên lịch sử phải có phương pháp giảng dạy thích hợp dẻ nàng cao tính tích cực trong học tập của học sinh, khiến học sinh không coi môn Lịch sử là môn phụ. THU VIEN Trưởng f |4 Su-Pham Trang 19 mm mm.