Chương 1: Luận văn đưa ra những cơ sở lý luận chung về công tác khai thác các dịch vụ bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đưa ra những đặc trưng cơ bản của thị trường bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các nhân tố ảnh hưởng và đi sâu vào những vấn đề liên quan đến công tác khai thác dịch vụ bảo hiểm. Khái quát vai trò, quy trình, các nhân tố ảnh hường và các phương thức khai thác dịch vụ bảo hiểm. Các chỉ tiêu đánh giá sự ảnh hưởng của Công tác khai thác tới kết quả và hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp bảo hiểm. Đề tài điểm qua khái niệm và đặc trƣng cơ bản và đặc điểm riêng của thị trƣờng bảo hiểm.
Trong phần đặc trƣng cơ bản của thị trƣờng bảo hiểm bao gồm: - Cung, cầu về các loại sản phẩm luôn biến động. - Giá cả sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố - Cạnh tranh và liên kết diễn ra liên tục - Thị phần các doanh nghiệp luôn thay đổi Về hoạt động kinh doanh bảo hiểm mang những đặc điểm sau: + Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh sản phẩm đặc biệt và có đối tƣợng kinh doanh đa dạng. + Hoạt động KDBH có vốn pháp định lớn. + Hoạt động KDBH luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ (DPNV) bảo hiểm.
+ Hoạt động KDBH luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tƣ. + Vấn đề an toàn tài chính cho hàng triệu ngƣời luôn phải đƣợc đặt lên hàng đầu, vì vậy việc kiểm tra, kiểm soát của nhà nƣớc trong hoạt động này là rất chặt chẽ. Trong đề tài, tác giả đi sâu nghiên cứu đến các nhân tố ảnh hƣởng iii tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm của DNBH. Các nhân tố đƣợc chia thành 2 nhóm: - Nhóm các nhân tố bên trong doanh nghiệp gồm: + Định hƣớng và chiến lƣợc kinh doanh của DNBH + Khả năng tài chính + Trình độ tổ chức bộ máy quản lý và nguồn nhân lực + Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm + Khả năng quản lý và kiểm soát rủi ro - Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp gồm: + Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhƣ: Rủi ro của DNBH phải đền bù thiệt hại của khách hàng.
Rủi ro của khách hàng là những rủi ro bất ngờ mà không lƣờng trƣớc đƣợc. + Môi trƣờng pháp lý. + Môi trƣờng chính trị, văn hóa – xã hội. + Môi trƣờng kinh tế.
Về hoạt động khai thác bảo hiểm tác giả đƣa ra những vấn đề lý luận sau: Vai trò của hoạt động khai thác bảo hiểm Hoạt động khai thác bảo hiểm góp phần tạo ra một nguồn vốn lớn, tăng tích lũy cho ngân sách tạo tâm lý an tâm trong hoạt động kinh tế và đời sống. Hoạt động khai thác tốt sẽ mang lại doanh thu cao, giúp DNBH tạo dựng đƣợc nhiều mối quan hệ khách hàng, tăng uy tín cho doanh nghiệp. Giúp DNBH đánh giá đƣợc thực trạng hoạt động kinh doanh của mình qua đó có chiến lƣợc kinh doanh trong tƣơng lai. Ngoài ra, hoạt động khai thác còn gắn kết các mối quan hệ xã hội, mở rộng giao lƣu giữa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế xã hội, góp phần tạo iv công ăn việc làm cho ngƣời lao động.
Quy trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bao gồm các khâu: - Khâu khai thác và đánh giá rủi ro: Trong khâu này, các khai thác viên (KTV) thực hiện các bƣớc từ tiếp cần khách hàng, nhận yêu cầu bảo hiểm, đánh giá rủi ro và cấp hợp đồng (đơn) bảo hiểm. Sau đó KTV tiến hành quản lý rủi ro. - Khâu đề phòng hạn chế tổn thất (ĐPHCTT): KTV thực hiện khuyến cáo khách hàng thực hiện các biện pháp an toàn cho tài sản, trách nhiệm, hoặc hạn chế mức độ tổn thất khi có sự cố. Hỗ trợ khách hàng các phƣơng tiện phòng chống tổn thất theo các quy định, giám định rủi ro và đƣa ra các khuyến cáo đề phòng hạn chế tổn thất.
- Khâu giám định: Khi có tổn thất, giám định viên tiếp nhận thông tin tổn thất, xử lý thông tin của tổn thất và tiến hành giám định tại hiện trƣờng, sau đó hoàn thiện hồ sơ giám định. - Khâu bồi thƣờng: Sau khi tiếp nhận hồ sơ tài liệu của giám định viên, bồi thƣờng viên tiến hành xem xét trách nhiệm bảo hiểm, lập và trình duyệt phƣơng án giải quyết; sau đó tiến hành thanh toán bồi thƣờng và hoàn chỉnh lƣu trữ hồ sơ bồi thƣờng. Các hình thức khai thác dịch vụ bảo hiểm - Khai thác trực tiếp Đây là hình thức khai thác không có mặt của các trung gian bán hàng. Khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với các phòng ban của DNBH hoặc qua điện thoại, qua mạng internet.
để tìm hiểu và ký kết hợp v đồng bảo hiểm. - Khai thác gián tiếp Khi khai thác gián tiếp các DNBH thƣờng sử dụng kênh khai thác là đại lý, môi giới bảo hiểm, qua ngân hàng và các tổ chức tài chính và một số kênh phân phối khác nhƣ Đoàn thanh niên, các tổ chức xã hội khác. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động khai thác bảo hiểm Về cơ bản các nhân tố ảnh hƣởng tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm sẽ ảnh hƣởng tới hoạt động khai thác bảo hiểm, vì hoạt động khai thác là một phần của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu nêu bật những nhân tố chính sẽ ảnh hƣởng trực tiếp tới hoạt động khai thác nhƣ: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và quy mô của DNBH, trình độ chuyên môn của các cán bộ khai thác, các chính sách xúc tiến bán và chính sách Marketing của doanh nghiệp, năng lực của các đối thủ cạnh tranh và những quy định mang tính chất pháp lý của Nhà nƣớc trong hoạt động KDBH.
Tác giả đƣa ra phần lý luận về đánh giá kết quả và hiệu quả khai thác bảo hiểm Đánh giá kết quả và hiệu quả khai thác sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá đƣợc toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh của mình từ đó đƣa ra đƣợc những giải pháp khắc phục điểm yếu kém, lập kế hoạch liên quan đến năm nghiệp vụ tiếp theo. Ngoài ra, qua phân tích doanh nghiệp sẽ dự báo đƣợc xu thế phát triển của các hiện tƣợng kinh tế diễn ra trong tƣơng lai và kiểm tra, hoàn thiện biểu phí và cách tính phí cho từng loại sản phẩm. Chỉ tiêu đánh giá kết quả khai thác bảo hiểm Kết quả kinh doanh khai thác của một nghiệp vụ bảo hiểm, một vi loại hình bảo hiểm và của cả DNBH đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu: số lƣợng hợp đồng bảo hiểm, số đơn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và doanh thu phí bảo hiểm. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác bảo hiểm Hiệu quả khai thác có thể đƣợc xác định thông qua nhiều chỉ tiêu, trong đó phải kể đến hai chỉ tiêu là tỷ lệ so sánh doanh thu khai thác trên chi phí, và doanh thu khai thác trên số lƣợng cán bộ.
Doanh thu khai thác đƣợc xác định bao gồm: tổng số lƣợng hợp đồng, tổng số lƣợng đơn bảo hiểm, tổng số tiền bảo hiểm, tổng doanh thu phí bảo hiểm. Do vậy, có thể xác định hiệu quả khai thác của doanh nghiệp khi đem so sánh những chỉ tiêu này với chi phí và số lƣợng cán bộ khai thác. Các chỉ tiêu cụ thể có thể kể đến nhƣ: năng suất lao động bình quân, Năng suất khai thác bình quân của một đại lý bảo hiểm, năng suất khai thác bình quân theo nghiệp vụ nhƣ: nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới (Số đầu xe khai thác bình quân một đại lý. Chương 2: Thực trạng khai thác dịch vụ bảo hiểm ở Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện (PTI) trong những năm vừa qua (2005- 2009) Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bƣu điện (gọi tắt là PTI) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/09/1998, PTI là tập hợp của các tập đoàn kinh tế lớn thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo nên cho công ty sự đa dạng về ngành nghề cũng nhƣ vững chắc về tài chính.
Tổ chức bộ máy quản lý của PTI với số lƣợng cán bộ trên 500 ngƣời, 22 chi nhánh và trên 1.000 đại lý trên toàn quốc. Bộ máy quản lý gồm Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Ban kiểm khoát, các khối nghiệp vụ. vii Phạm vi hoạt động của PTI: PTI cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, kinh doanh bảo hiểm và thực hiện các hoạt động đầu tƣ tài chính có liên quan. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của PTI (2005 – 2009) Về hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc Nhìn chung doanh thu bảo hiểm gốc của PTI đều tăng trƣởng năm sau cao hơn năm trƣớc.
Doanh thu năm 2005 là 282.894 triệu đồng thì đến năm 2009 doanh thu đã đạt 459.402 triệu đồng, tăng trƣởng lên tới gần 50% nguyên nhân là do từ năm 2008, PTI triển khai bảo hiểm vệ tinh Vinasat mang lại doanh thu cao. Đặc điểm hoạt động khai thác năm 2005 của PTI là khai thác nhóm khách hàng trong ngành là chủ yếu, tỷ trọng doanh thu nhóm khách hàng này là chính. Tuy nhiên, các năm sau khoảng cách về tỷ trọng doanh thu của 2 nhóm khách hàng này đã đuộc thu hẹp. Đến năm 2007, tỷ trọng doanh thu phí khai thác trong ngành đã giảm thấp hơn so với tỷ trọng doanh thu ngoài ngành.
Tổng chi bồi thƣờng bảo hiểm gốc đều tăng qua các năm nhƣng tỷ lệ có xu hƣớng giảm dần từ, riêng năm 2009, chi bồi thƣờng giảm hơn so với năm 2008 do PTI kiểm soát tốt công tác đề phòng hạn chế tổn thất và công tác đánh giá rủi ro. Về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm Trong các năm qua hoạt động tái bảo hiểm của Công ty phát triển tốt theo cả hai hình thức cố định cũng nhƣ tạm thời, đóng góp một tỷ trọng không nhỏ trong tổng doanh thu phí của toàn Công ty. PTI đã tiến hành chào hợp đồng tái bảo hiểm cố định cho các công ty bảo hiểm trong nƣớc. Về hoạt động đầu tƣ tài chính Từ năm 2006 trở về trƣớc, hoạt động đầu tƣ của công ty hầu hết tập viii trung vào hình thức gửi tiền tại các tổ chức tính dụng nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Xét về doanh số, hoạt động đầu tƣ trong các năm qua đều hoàn thành vƣợt mức kế hoạch, tuy nhiên hình thức đầu tƣ còn chƣa đa dạng, hiệu quả đầu tƣ chƣa cao.