CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ CÁC T 3 PHẨM CHẤT TÂM LÝ NGƯỜI CẢNH SÁT NHÂN DÂN .Vài nét về trường Cao đẳng CSND II. Lịch sử hình thành và phát triển. Chức năng nhiệm vụ.
Thể thức nghiên cứu. Khách thể nghiên cứu. Công cụ nghiên cứu 57 3T T 3 2. Thực trạng khả năng tự đánh giá PCTL người CSND của học T 3 viên trường Cao đẳng CSND II.
Thực trạng đánh giá của học viên về mức độ cần thiết 3T của các PCTL người CSND. Thực trạng khả năng tự đánh giá các PCTL người 3T CSND của học viên. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và rèn luyện 3T các PCTL người CSND. Đề xuất một số biện pháp nâng cao khả năng TĐG 3T PCTL người CSND cho học viên trường Cao đẳng CSND II.
118 3T TIỂU KẾT CHƯƠNG 2. 121 T 3 3T KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ. 123 T 3 3T TÀI LIỆU THAM KHẢO. 127 T 3 3T PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BH : Biểu hiện CSND II : Cảnh sát Nhân dân II CSND : Cảnh sát nhân dân ĐTB : Điểm trung bình GV : Giảng viên HV : Học viên NL : Năng lực NXB : Nhà xuất bản PCTL : Phẩm chất tâm lý TP.
HCM : Thành phố Hồ Chí Minh TĐG : Tự đánh giá DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. T 3 Khách thể nghiên cứu. T 3 Đánh giá của học viên về mức độ cần thiết của các PCTL. T 3 Đánh giá của học viên về mức độ cần thiết của các PCTL phân theo nhóm.
T 3 Mức độ TĐG các phẩm chất tâm lý. T 3 Tự đánh giá về các biểu hiện của động cơ. T 3 Tự đánh giá động cơ. T 3 Tự đánh giá về các biểu hiện của niềm tin.
T 3 Tự đánh giá Niềm tin. T 3 Tự đánh giá về các biểu hiện của tinh thần trách nhiệm. Tự đánh giá về tinh thần trách nhiệm. Tự đánh giá về các biểu hiện của tính kỉ luật.
Tự đánh giá tính kỉ luật. Tự đánh giá các biểu hiện của năng lực giao tiếp xã hội. Tự đánh giá năng lực giao tiếp. Tự đánh giá về các biểu hiện của năng lực kiểm tra đánh giá.
Tự đánh giá năng lực kiểm tra đánh giá. Tự đánh giá về các biểu hiện của tính bình tĩnh, kiềm chế. Tự đánh giá về tính bình tĩnh, kiềm chế. Tự đánh giá về các biểu hiện của tính linh hoạt.
Tự đánh về tính linh hoạt. So sánh điểm trung bình TĐG các PCTL của học viên T 3 theo năm học và ngành học. Mô tả ĐTB TĐG của học viên và ĐTB đánh giá của cán T 3 bộ, giảng viên. So sánh ĐTB TĐG PCTL của học viên với đánh giá của T 3 cán bộ, giảng viên.
So sánh TĐG các biểu hiện của năng lực giao tiếp xã hội. So sánh TĐG các biểu hiện của năng lực kiểm tra đánh giá. So sánh TĐG các biểu hiện của tính bình tĩnh, kiềm chế. So sánh TĐG các biểu hiện của tính linh hoạt.
So sánh TĐG các biểu hiện của tính kỉ luật. So sánh TĐG các biểu hiện của Tinh thần trách nhiệm. So sánh TĐG các biểu hiện của động cơ. So sánh TĐG các biểu hiện của Niềm tin.
Tổng hợp số cặp tương quan của các PCTL. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và rèn luyện T 3 PCTL người CSND. Lí do chọn nghề của học viên trường Cao đẳng CSND II. Một số PCTL có thể hình thành trong chương trình học T 3 tập rèn luyện tại trường Cao đẳng CSND II.
Một số môn học và hoạt động tại trường cần cải tiến. Lý do chọn đề tài 1.Tự đánh giá bản thân đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lý của cá nhân. fTự đánh giá là điều kiện bên trong để phát triển nhân cách. Khi đánh giá đúng bản thân, cá nhân mới có cơ sở điều chỉnh, điều khiển bản thân cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Do đó, nghiên cứu về khả năng tự đánh giá các PCTL cá nhân sẽ góp phần phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của cá nhân, góp phần to lớn trong việc hoàn thiện nhân cách của mỗi người. Bất kì một xã hội nào muốn phát triển cũng cần có sự ổn định về chính trị, về trật tự pháp luật, an toàn xã hội. Nếu trật tự xã hội không được đảm bảo thì bầu không khí tâm lý xã hội căng thẳng, nặng nề, các hoạt động sản xuất có thể bị đình trệ, kinh tế không phát triển, văn hóa giáo dục theo đó mà dần suy yếu, các quyền lợi và lợi ích cá nhân chính đáng luôn bị đe dọa, sự vững mạnh về mặt chính quyền sẽ bị lung lay. Lực lượng Công an nhân dân nói chung, lực lượng CSND nói riêng là lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Nếu hoạt động của lực lượng Cảnh sát không có hiệu quả, các tệ nạn phát triển, tội phạm xảy ra nhiều xã hội sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, hệ thống chuẩn mực xã hội bị vô hiệu hóa gây tâm trạng hoang mang lo lắng, bất an cho toàn xã hội. Chống tội phạm, kìm hãm sự gia tăng của các tệ nạn tiến đến đẩy lùi và xóa bỏ tội phạm xã hội ra khỏi đời sống xã hội là mục tiêu chiến lược của mọi chế độ xã hội. Từ đó có thể nói rằng nghề Cảnh sát là một nghề không thể thiếu với bất kì xã hội nào. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, nghề Cảnh sát là nghề không thể thiếu và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao.
Xuất phát từ đặc thù công tác của lực lượng CSND, đó là một loại hình nghề nghiệp đặc biệt với công việc hướng dẫn mọi người cư xử, hành động 2 theo pháp luật góp phần hoàn thiện nhân cách con người. Điều đó đòi hỏi người Cảnh sát phải có những phẩm chất tâm lý phù hợp với yêu cầu công việc, được xã hội chấp thuận. Hồ Chí Minh cũng đã nêu lên một số PCTL cần thiết của người làm trong lĩnh vực lực lượng vũ trang “Công an của ta là Công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc” và “tư cách của người Công an cách mệnh là: Đối với tự mình phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính; đối với chính phủ phải tuyệt đối trung thành; đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép; đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ; đối với địch phải kiên quyết, khôn khéo; đối với công việc phải tận tụy” [27, tr. Trong hoạt động thực tiễn của ngành, lực lượng Cảnh sát đã có những nỗ lực đặc biệt, xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng và Nhà Nước.
Đảng và Nhà Nước đã ghi nhận thông qua những phần thưởng cao quý: 3 lần lực lượng Công an Nhân dân được tặng thưởng huân chương Sao Vàng, 50 huân chương Hồ Chí Minh và hàng ngàn huân, huy chương khác trong các thời kì. Bên cạnh đó, các bộ phận của lực lượng Công an vẫn còn một số chiến sĩ vi phạm kỷ luật, pháp luật, thậm chí đến mức bị truy tố pháp luật. Báo cáo tình hình và kết quả công tác của Bộ Công an năm 2000 đã nhận định: “Một số cán bộ Công an trực tiếp đấu tranh chống tội phạm còn tiêu cực, vi phạm, nhất là trong các lực lượng cảnh sát điều tra, cảnh sát hình sự, cảnh sát giao thông…”. Công tác đấu tranh chống tội phạm, gìn giữ tự trật an toàn xã hội đạt hiệu quả chưa cao, số vụ tội phạm và số lượng người phạm tội vẫn tăng lên hàng năm.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện trạng trên là do ở một số chiến sĩ chưa hình thành được những phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu công việc, ở một số khác, năng lực, sở trường của họ chưa được phát huy hết. Về mặt khách quan, sự vận động của tình hình xã hội trong những năm gần đây vô cùng mạnh mẽ, làm cho đất nước có những thay đổi cơ bản, hoạt động kinh tế mở rộng và phát triển sôi động, dân trí 3 được nâng cao, đồng thời tình hình tội phạm cũng thêm phức tạp, xuất hiện hàng loạt các tội phạm mới, phương thức và thủ đoạn tinh vi với các phương tiện hiện đại [27, tr. Những vấn đề đó làm cho nhiệm vụ của lực lượng CSND càng thêm nặng nề, hoạt động nghề nghiệp đặt ra những yêu cầu cao hơn về những phẩm chất cá nhân đối với người chiến sĩ công an. Để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đạt hiệu quả cao đòi hỏi lực lượng Cảnh sát nói chung và các bộ phận chuyên trách nói riêng phải không ngừng hiện đại hóa và chuyên môn hóa.
Do vậy, quan tâm rèn luyện PCTL người CSND cho học viên Trường Cảnh sát là một việc làm quan trọng góp phần củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ CSND nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong thực tiễn, Bộ Công an nói chung và trường Cao đẳng CSND II nói riêng hết sức chú trọng đến việc bồi dưỡng, rèn luyện các PCTL đáp ứng yêu cầu đặc thù của nghề. Có một số công trình khoa học đã nghiên cứu về khả năng tự đánh giá chung và khả năng tự đánh giá các PCTL nói riêng trên nhiều đối tượng khác nhau, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện trên đối tượng là học viên trường Cao đẳng CSND II. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài Khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn, góp phần tìm hiểu thực trạng khả năng tự đánh giá các phẩm chất tâm lý người cảnh sát của học viên Trường Cao đẳng CSND II.
Xuất phát từ các lý do, trên người nghiên cứu chọn nghiên cứu đề tài “Khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II”. Mục đích nghiên cứu Khảo sát thực trạng khả năng tự đánh giá PCTL người CSND của học viên Trường Cao đẳng CSND II. Từ đó đề xuất một số biện pháp giúp học 4 viên tự đánh giá đúng, làm cơ sở cho việc rèn luyện những PCTL của người CSND. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người CSND 3.