Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi nguồn con giống có năng suất sinh trưởng vượt trội và chất lượng thân thịt cao. Tuy nhiên, chất lượng đàn giống gốc trong nước còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu giống hạt nhân cho thị trường sản xuất thương phẩm. Nhằm giải quyết bài toán cấp bách này, Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương đã nhập khẩu các nguồn gen thuần Landrace chất lượng cao từ Công ty Genplus của Pháp và Công ty Cedar Ridge Genetics của Mỹ vào các năm 2015 và 2017.

Vấn đề then chốt được đặt ra là làm thế nào để khai thác tối đa ưu thế di truyền từ hai nguồn gen ngoại nhập: dòng Landrace Pháp nổi bật với ngoại hình trường mình, khả năng sinh sản tốt và dòng Landrace Mỹ có ưu thế về tầm vóc, khối lượng cơ bắp và mông vai phát triển. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chăn nuôi của tác giả Khamla Thammavong tập trung giải quyết mục tiêu đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng, năng suất sinh sản và phẩm chất tinh dịch của hai nhóm lợn lai LVN1 (đực Landrace Pháp phối với nái Landrace Mỹ) và LVN2 (đực Landrace Mỹ phối với nái Landrace Pháp).

Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 8/2019 tại Trạm Nghiên cứu và Phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp và Trạm Nghiên cứu và Phát triển giống lợn hạt nhân Kỳ Sơn thuộc Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào Đề tài Trọng điểm cấp Bộ về nghiên cứu chọn tạo dòng lợn nái tổng hợp và lợn đực cuối cùng. Kết quả nghiên cứu xác lập các chỉ số kỹ thuật ấn tượng với mức tăng khối lượng đạt trên 866 g/ngày, tỷ lệ nạc đạt trên 59% và số con sơ sinh sống đạt trên 12 con/ổ, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho công tác nhân thuần và lai tạo giống lợn tại các tỉnh phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết di truyền số lượng và lý thuyết ưu thế lai trong chăn nuôi gia súc. Quá trình sinh trưởng của lợn là sự tích lũy sinh học phức tạp của mô nạc, mô mỡ và mô xương, chịu sự chi phối chặt chẽ bởi hệ thống gen điều khiển sinh trưởng và các tương tác ngoại cảnh. Các tính trạng sinh trưởng như tăng khối lượng bình quân ngày (Average Daily Gain - ADG) và tiêu tốn thức ăn trên một kilôgam tăng khối lượng (Feed Conversion Ratio - FCR) có hệ số di truyền ở mức trung bình (h² dao động quanh mức 0,31), đồng thời tồn tại mối tương quan di truyền nghịch rất chặt chẽ giữa tốc độ tăng trọng và chỉ số FCR (hệ số tương quan r dao động từ -0,51 đến -0,99).

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào bốn nhóm khái niệm cốt lõi:

  • Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối: Đánh giá tốc độ tăng trưởng khối lượng cơ thể theo ngày (g/ngày) và mô hình hóa đường cong sinh trưởng để xác định thời điểm kết thúc nuôi vỗ béo tối ưu.
  • Phẩm chất thân thịt: Xác định qua độ dày mỡ lưng (Backfat - BF), độ dày cơ thăn (Longissimus dorsi - LD), tỷ lệ nạc (Lean Meat - LM) và tỷ lệ mỡ giắt (Intramuscular Fat - IMF).
  • Năng suất sinh sản của lợn nái: Đánh giá qua các chỉ tiêu số con sơ sinh trên ổ (Number Born - NB), số con sơ sinh sống trên ổ (Number Born Alive - NBA), số con cai sữa (Number Weaned - NW) và khối lượng toàn ổ lúc cai sữa (Litter Weaning Weight - LWW).
  • Phẩm chất tinh dịch lợn đực giống: Đo lường qua thể tích tinh dịch (V), hoạt lực tinh trùng (A), nồng độ tinh trùng (C) và tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh (VAC).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm so sánh có đối chứng trên đàn lợn hạt nhân được quản lý lý lịch nghiêm ngặt bằng hệ thống xăm tai và gắn thẻ tai cá thể:

  • Đánh giá khả năng sinh trưởng: Cỡ mẫu gồm 200 cá thể (100 lợn LVN1 và 100 lợn LVN2, chia đều 50 đực và 50 cái mỗi nhóm). Lợn được chọn mẫu đồng đều về khối lượng và ngày tuổi, bắt đầu kiểm tra năng suất khi đạt khối lượng 30 kg (trung bình 75,67 ngày tuổi) và kết thúc tại thời điểm đạt 100 kg (trung bình 157,99 ngày tuổi). Lợn đực được nuôi nhốt cá thể để đo chính xác lượng thức ăn thu nhận, lợn cái nuôi theo lô chuẩn hóa mật độ. Cả hai nhóm đều sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có mức năng lượng trao đổi 3.050 kcal/kg với hàm lượng protein thô 16% đến 18%.
  • Đánh giá năng suất sinh sản: Cỡ mẫu gồm 70 lợn nái (35 nái LVN1 và 35 nái LVN2) được theo dõi liên tục qua 3 lứa đẻ đầu tiên với tổng số 210 ổ đẻ.
  • Đánh giá phẩm chất tinh dịch: Khảo sát trên 20 lợn đực giống (10 đực LVN1 và 10 đực LVN2) với tổng số 100 lần khai thác tinh (5 lần/con) bằng phương pháp nhảy giá thu nhận tinh dịch vô trùng.
  • Phương pháp phân tích thống kê: Toàn bộ dữ liệu được xử lý bằng mô hình tuyến tính tổng quát (General Linear Model - GLM) trên phần mềm SAS phiên bản 9.0. Giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất (LSMeans) và sai số chuẩn (SEM) được ước tính chính xác, các so sánh cặp được kiểm định bằng phương pháp so sai khác có hiệu chỉnh Tukey (pdiff), cho phép bóc tách độc lập ảnh hưởng của yếu tố nhóm giống, tính biệt, lứa đẻ và tương tác di truyền.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm đã ghi nhận bốn phát hiện khoa học quan trọng về đặc tính sinh học và năng suất của hai dòng lợn:

Thứ nhất, khả năng sinh trưởng của dòng LVN1 vượt trội hơn dòng LVN2. Tốc độ tăng khối lượng bình quân giai đoạn 30 đến 100 kg của lợn LVN1 đạt 884,14 g/ngày, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lợn LVN2 đạt 866,82 g/ngày (chênh lệch 17,32 g/ngày, tương đương tăng 2,00%, P < 0,05). Độ dày mỡ lưng của lợn LVN1 đạt 11,51 mm, mỏng hơn so với lợn LVN2 là 12,05 mm (P < 0,05). Cả hai nhóm đều đạt tỷ lệ nạc rất cao (59,16% ở LVN1 và 59,06% ở LVN2) cùng tỷ lệ mỡ giắt lý tưởng (2,16% và 2,25%).

Thứ hai, tính biệt tạo ra sự phân hóa rõ rệt về năng suất sinh trưởng và chất lượng thịt. Ở dòng LVN1, lợn đực có tốc độ tăng khối lượng đạt 928,64 g/ngày, cao hơn lợn cái đạt 833,78 g/ngày (chênh lệch 94,86 g/ngày, tương đương cao hơn 11,38%, P < 0,001). Lợn đực LVN1 có độ dày mỡ lưng mỏng hơn lợn cái (10,73 mm so với 12,27 mm) và tỷ lệ nạc cao hơn (60,28% so với 57,81%). Chỉ số tiêu tốn thức ăn FCR của lợn đực LVN1 đạt mức rất tối ưu là 2,50 kg thức ăn trên một kilôgam tăng trọng.

Thứ ba, năng suất sinh sản của cả hai dòng lợn nái đều ở mức cao, trong đó LVN2 chiếm ưu thế về số con đẻ ra nhưng LVN1 vượt trội về khả năng nuôi con. Lợn nái LVN2 đạt số con sơ sinh trên ổ là 12,74 con và số con sơ sinh sống là 12,22 con/ổ, cao hơn so với nái LVN1 (12,20 con sơ sinh và 12,00 con sơ sinh sống/ổ). Ngược lại, nái LVN1 thể hiện khả năng tiết sữa và nuôi con khéo léo hơn với số con cai sữa đạt 11,70 con/ổ và khối lượng cai sữa toàn ổ đạt 73,84 kg (cao hơn nái LVN2 đạt 11,36 con cai sữa và khối lượng 71,97 kg/ổ).

Thứ tư, phẩm chất tinh dịch của lợn đực LVN2 thể hiện các chỉ số vượt trội về hoạt lực và trữ lượng tinh trùng hữu dụng. Hoạt lực tinh trùng của lợn đực LVN2 đạt 0,85 (85%), cao hơn dòng LVN1 đạt 0,79 (79%). Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh (VAC) của lợn LVN2 đạt 42,35 tỷ tinh trùng, cao hơn 7,49% so với dòng LVN1 đạt 39,40 tỷ tinh trùng, mặc dù thể tích tinh dịch mỗi lần xuất của hai dòng tương đương nhau (216,02 ml ở LVN1 và 211,28 ml ở LVN2).

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về các chỉ số sinh trưởng và sinh sản giữa hai nhóm phản ánh rõ nét hiệu ứng tổ hợp gen khi sử dụng đực và nái có nguồn gốc khác nhau. Tổ hợp LVN1 tận dụng được ưu thế dòng bố Landrace Pháp có thân hình dài, khung xương phát triển kết hợp dòng mẹ Landrace Mỹ, giúp con lai đạt tốc độ tăng khối lượng nhanh và tích lũy nạc cao. Trong khi đó, dòng LVN2 với dòng mẹ Landrace Pháp lại thể hiện ưu thế sinh sản với số trứng rụng và số phôi làm tổ cao hơn, dẫn đến số con sơ sinh sống nhiều hơn.

So với các công bố trước đây trên đàn Landrace thuần tại Việt Nam như nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Kim Dung (tăng khối lượng đạt 710,56 g/ngày), tác giả Phùng Thị Vân (551,40 g/ngày) hay tác giả Phan Xuân Hảo (646,00 g/ngày), các dòng lai LVN1 và LVN2 đã tạo bước tiến nhảy vọt về tốc độ sinh trưởng (tăng từ 24,4% đến trên 50%). Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế, mức tăng khối lượng của LVN1 (884,14 g/ngày) cao hơn đàn Landrace tại Thái Lan (798,09 g/ngày của tác giả Sirichokchatchawan) nhưng thấp hơn đàn Landrace chọn lọc cao tại Đan Mạch (1.035 g/ngày theo báo cáo Danbred), điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện tiểu khí hậu nhiệt đới tại miền Bắc Việt Nam.

Trong thực tế phân tích dữ liệu, các mối tương quan và động thái phát triển này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trọng giữa hai giới tính, biểu đồ phân bố độ dày mỡ lưng và bảng biến thiên năng suất sinh sản qua ba lứa đẻ, giúp các nhà chọn giống dễ dàng nhận diện xu hướng phát triển ổn định của đàn nái từ lứa 2 đến lứa 3.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu được, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm ứng dụng hiệu quả hai nguồn gen LVN1 và LVN2 vào thực tiễn:

  1. Định hướng chọn lọc nhân thuần và phân dòng chức năng: Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương cùng các viện chăn nuôi chuyên ngành cần định hướng phát triển dòng đực LVN1 làm dòng đực thuần hướng nạc với mục tiêu tăng khối lượng đạt trên 900 g/ngày và FCR dưới 2,45 kg thức ăn/kg tăng trọng; đồng thời ưu tiên chọn lọc dòng nái LVN2 làm dòng nái sinh sản nhằm duy trì số con sơ sinh sống trên 12,5 con/ổ trong giai đoạn 2020 - 2025.
  2. Chuẩn hóa quy trình dinh dưỡng và kiểm soát tiểu khí hậu: Các trại nhân giống hạt nhân cần thiết lập định mức dinh dưỡng giai đoạn 30 đến 100 kg duy trì năng lượng trao đổi 3.050 kcal/kg, bổ sung cân đối các axit amin thiết yếu như lysine và methionine; lắp đặt hệ thống làm mát chuồng kín duy trì nhiệt độ dưới 27°C nhằm hạn chế triệt để stress nhiệt trong mùa hè, giúp tăng tỷ lệ sống của lợn con theo mẹ lên trên 96% ngay trong năm đầu áp dụng.
  3. Tối ưu hóa chế độ khai thác và pha loãng tinh đực giống: Ban quản lý kỹ thuật các trạm thụ tinh nhân tạo cần áp dụng tần suất khai thác tinh 2 lần/tuần đối với đực giống LVN1 và LVN2; kiểm soát nghiêm ngặt chỉ số VAC trên 40 tỷ tinh trùng để sản xuất từ 15 đến 18 liều tinh thương phẩm đạt chuẩn/lần xuất tinh, áp dụng thường quy từ quý I hàng năm.
  4. Xây dựng mô hình chuỗi chuyển giao giống thương phẩm: Cơ quan khuyến nông và các doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn cần phối hợp chuyển giao các tổ hợp nái LVN1 và LVN2 vào hệ thống trang trại vệ tinh tại các tỉnh phía Bắc, đặt mục tiêu nâng cao năng suất đàn nái thương phẩm lên trên 26 con cai sữa/nái/năm trong giai đoạn 2021 - 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Các nhà khoa học và chuyên gia di truyền giống vật nuôi: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn xác về các thông số di truyền, tương tác kiểu gen và môi trường, hỗ trợ nghiên cứu thiết kế các công thức lai tổng hợp giữa nguồn gen Pháp và Mỹ.
  • Giám đốc kỹ thuật và quản lý trang trại chăn nuôi công nghiệp: Cung cấp hệ thống chỉ tiêu định mức chuẩn về tốc độ tăng trưởng (866 - 884 g/ngày), tiêu tốn thức ăn (2,50 kg/kg tăng trọng) và chỉ tiêu tinh dịch, giúp xây dựng bộ chỉ số KPI kỹ thuật chính xác cho quy trình chăn nuôi trang trại.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Là tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp bố trí thí nghiệm kiểm tra năng suất cá thể, kỹ thuật siêu âm mỡ lưng - cơ thăn và phương pháp xử lý thống kê nâng cao bằng phần mềm SAS 9.0.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực chứng để xây dựng quy hoạch phát triển đàn giống gốc quốc gia, phê duyệt các chương trình cải tạo giống vật nuôi nhằm gia tăng sản lượng thịt xẻ chất lượng cao.

Câu hỏi thường gặp

Sự khác biệt cốt lõi về công thức lai giữa lợn LVN1 và LVN2 là gì? Lợn LVN1 được tạo ra từ việc phối giữa lợn đực Landrace nguồn gốc Pháp và lợn nái Landrace nguồn gốc Mỹ. Ngược lại, lợn LVN2 là sản phẩm của phép lai đảo giữa lợn đực Landrace Mỹ và lợn nái Landrace Pháp. Cả hai phép lai đều kết hợp hài hòa đặc tính trường mình của dòng Pháp và độ nở mông vai của dòng Mỹ.

Dòng lợn nào chiếm ưu thế hơn về tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ nạc thân thịt? Dòng LVN1 thể hiện ưu thế sinh trưởng vượt trội với mức tăng khối lượng bình quân đạt 884,14 g/ngày, cao hơn 17,32 g/ngày so với LVN2. Đồng thời, LVN1 có độ dày mỡ lưng mỏng hơn (11,51 mm so với 12,05 mm) và tỷ lệ nạc cao đạt 59,16%, đem lại chất lượng thân thịt thương phẩm xuất sắc.

Hiệu suất sinh sản của đàn nái LVN1 và LVN2 biểu hiện như thế nào trong thực tế? Cả hai dòng nái đều đạt thành tích sinh sản rất cao. Nái LVN2 vượt trội về số lượng con đẻ ra với 12,22 con sơ sinh sống/ổ. Trong khi đó, nái LVN1 lại có ưu thế về khả năng nuôi con với 11,70 con cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa toàn ổ đạt tới 73,84 kg ở giai đoạn 21 ngày tuổi.

Chất lượng tinh dịch của lợn đực LVN1 và LVN2 có đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất tinh thương phẩm? Phẩm chất tinh dịch của cả hai dòng đều vượt xa tiêu chuẩn thụ tinh nhân tạo. Lợn đực LVN2 đạt hoạt lực tinh trùng 85% và tổng số tinh trùng tiến thẳng VAC đạt 42,35 tỷ tinh trùng/lần xuất, trong khi LVN1 đạt 39,40 tỷ tinh trùng, cho phép pha loãng sản xuất trung bình 15 đến 20 liều tinh đạt chuẩn mỗi lần khai thác.

Hệ số tiêu tốn thức ăn FCR của lợn đực hậu bị trong nghiên cứu đạt mức bao nhiêu? Trong suốt giai đoạn kiểm tra năng suất từ 30 kg đến 100 kg, lợn đực LVN1 ghi nhận mức tiêu tốn thức ăn tối ưu chỉ 2,50 kg thức ăn trên một kilôgam tăng khối lượng. Chỉ số này tiết kiệm hơn đáng kể so với mức bình quân từ 2,91 đến 3,09 kg ở các dòng lợn Landrace nhập nội giai đoạn trước.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện và xác lập cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy về khả năng sinh trưởng, năng suất sinh sản và phẩm chất tinh dịch của hai tổ hợp lợn lai LVN1 và LVN2 tại Việt Nam.
  • Dòng LVN1 thể hiện ưu thế nổi bật về tốc độ sinh trưởng (884,14 g/ngày), tỷ lệ nạc (59,16%) và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của lợn đực (FCR đạt 2,50 kg/kg tăng trọng).
  • Dòng LVN2 chứng minh tiềm năng sinh sản lớn với số con sơ sinh sống đạt 12,22 con/ổ cùng phẩm chất tinh dịch xuất sắc (hoạt lực tinh trùng 85%, VAC đạt 42,35 tỷ tinh trùng/lần khai thác).
  • Kết quả nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn của phương pháp lai phối hợp nguồn gen Landrace Pháp và Mỹ, đóng góp trực tiếp cho chương trình chọn tạo giống hạt nhân quốc gia.
  • Nghiên cứu mở ra hướng đi bền vững trong việc tự chủ nguồn giống lợn chất lượng cao, giảm thiểu phụ thuộc vào nhập khẩu giống thương phẩm hàng năm.

Các bước triển khai tiếp theo trong giai đoạn 2020 - 2025 cần tập trung theo dõi năng suất đàn nái đến lứa đẻ thứ 6 và nhân rộng mô hình chăn nuôi thương phẩm. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp chăn nuôi quan tâm có thể khai thác sâu các bảng dữ liệu chuyên ngành trong toàn văn công trình để ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.