ĐẶT VẤN ĐỀ Nước ta là một nước có truyền thống về nông nghiệp. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng cũng đang có những bước phát triển cả về quy mô và tính chuyên hóa. Sự phát triển của ngành chăn nuôi không chỉ đáp được ứng nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng thực phẩm mà còn đảm bảo an sinh xã hội và đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Với lợi thế của chăn nuôi gà là chu kỳ sản xuất ngắn, đầu tư ban đầu thấp hơn so với các loại gia súc khác nên từ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, ngày càng nhiều mô hình chăn nuôi tập trung, công nghiệp, hàng hóa quy mô lớn.
Theo số liệu thống kê, giai đoạn 2016-2020 tổng đàn gia cầm phát triển với tốc độ tăng trưởng 8,75%; trong đó đàn gà tăng 9,46% (gà thịt tăng 10,15%, gà đẻ tăng 7,08%). Cuối năm 2020 tổng đàn gia cầm trên 516 triệu con, trong đó đàn gà trên 410 triệu con (chiếm 79,5%) (Cục chăn nuôi, 2021). Theo báo cáo tổng kết, kết quả sản xuất quý 1 năm 2021 của Bộ NN&PTNT, đàn gia cầm ước tăng 8,3%; sản lượng thịt ước đạt 513,6 nghìn tấn, tăng 5,2%; trứng ước đạt 4,5 tỷ quả, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm 2020. Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm khoảng 70% giá thành sản phẩm, trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao, chi phí chăn nuôi gà tăng trong khi giá gà trên thị trường không những không tăng mà còn có xu hướng giảm làm cho ngành chăn nuôi gà gặp nhiều khó khăn.
Chính vì vậy, việc sử dụng các loại thức ăn có giá thành hợp lý là mục tiêu của các nhà dinh dưỡng và người chăn nuôi. Chiến lược xây dựng công thức thức ăn tối ưu vừa đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng vừa cân đối hợp lý giữa các chỉ tiêu dinh dưỡng nhu năng lượng, protein, axit amin, vitamin, khoáng,. sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng 1 thức ăn, vật nuôi khỏe mạnh, sinh trưởng tốt, tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường là rất quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng. Bên cạnh đó, để đạt hiệu quả cao trong sản xuất gà ở quy mô lớn, vừa và nhỏ thì người chăn nuôi cũng cần phải chú ý đến kĩ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc cũng như thức ăn của gà thịt.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên gà lông màu, cụ thể là gà Lương Phượng – là dòng gà nhập nội có thể hình địa phương, yêu cầu thức ăn không cao, quản lí nuôi đơn giản và ít dịch bệnh. Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Theo dõi khả năng sinh trưởng của đàn gà Lương Phượng khi nuôi bằng các khẩu phần ăn có hàm lượng protein thô khác nhau”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1. Mục đích Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà Lương Phượng khi nuôi bằng các khẩu phần ăn có mức giảm hàm lượng Protein thô khác nhau trên cơ sở cân đối các axit amin thiết yếu.
Yêu cầu Theo dõi, ghi chép số liệu đầy đủ, đảm bảo tính khách quan, trung thực. Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà qua các giai đoạn. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. MỘT SỐ NÉT VỀ GIỐNG GÀ LƯƠNG PHƯỢNG (LƯƠNG PHƯỢNG) Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa Trung Quốc có xuất sứ từ vùng ven sông Lương Phượng của Trung Quốc.
Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo, thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, giữa giống gà nội của Trung Quốc với gà nhập nội, được nhập vào nước ta từ sau năm 1997. Gà có màu lông đa dạng: vàng đốm đen ở vai, lưng và lông đuôi. Lông cổ có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen. Dòng mái có màu đốm đen, cánh sẻ là chủ yếu.
Gà Lương Phượng có mào, tích, tai đều màu đỏ. Gà có thân hình chắc, gà có hình dáng bên ngoài giống với gà Ri, bộ lông có màu vàng, dày, bóng, mượt. Mào và phần đầu màu đỏ. Gà có màu lông đa dạng vàng đốm đen ở vai, lưng và lông đuôi.
Lông cổ có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen. Da gà màu vàng. Gà trống có mào cờ đứng, ngực rộng dài, lưng phẳng, chân cao trung bình, lông đuôi vươn cong. Gà trống còn có màu vàng hoặc tía sẫm, mào đơn, hông rộng, lưng phẳng, lông đuôi dựng đứng, đầu và cổ gọn, chân thấp và nhỏ.
Dòng trống chủ yếu có màu vàng nâu nhạt đốm đen. Chân màu vàng, mào đơn đỏ tươi. Thân hình cân đối. Gà mái đầu thanh tú, thể hình chắc, rắn, chân thẳng, nhỏ.
Màu lông đa phần ma hoàng, lông cú sẫm, số ít màu sẫm điểm lông đen rất hấp dẫn với người chăn nuôi và tiêu dùng. Dòng mái có màu đốm đen, cánh sẽ là chủ yếu. 3 Thịt ngon, da màu vàng, chất thịt min, vị đậm. Gà giết mổ, da vàng, thịt ngon, đậm đà.
Khối lượng cơ thể lúc mới sinh: 34,5 g, lúc 8 tuần tuổi đạt 1,2 - 1,3 kg. Khối lượng gà lúc 20 tuần tuổi con trống 2,0 - 2,2 kg, gà mái 1,7 - 1,8 kg/con. Gà xuất chuồng lúc 70 ngày tuổi cân nặng 1,5 – 1,6 kg. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,4 – 2,6 kg.
Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, 4 thích hợp với các điều kiện chăn nuôi, nuôi công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả. Gà thịt nuôi đến 70 ngày tuổi đạt 1,8 kg. Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2,6 kg thức ăn/kg tăng trọng nuôi sống trên 95%. Khối lượng gà thịt lúc 12 tuần tuổi: 2,0 - 2,5 kg, Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng: 2,4 - 2,6 kg.
Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt, vừa thả) hoặc nuôi thả ở vườn, ngoài đồng, trên đồi. Giống gà này rất phù hợp với điều kiện chăn thả tự do. Khả năng sinh sản của gà Lương Phượng rất tốt. Tuổi vào đẻ là 24 tuần, khối lượng cơ thể gà mái đạt 2.100 g, gà trống đạt 2.
Tuổi đẻ đầu tiên 140 - 150 ngày, sản lượng trứng 150 - 170. Sản lượng trứng/66 tuần đẻ đạt khoảng 171 quả, tỷ lệ phôi đạt 92%. KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA GIA CẦM 2. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển Có thể hiểu sinh trưởng là quá trình sinh học rất phức tạp bao gồm các quá trình phân chia tế bào, tăng thể tích, khối lượng và các chất giữa tế bào của các bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể.
Giống như các sinh vật khác, về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy sự tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm cũng tuân theo các quy luật: Theo tài liệu của Chambers (1990) thì tác giả MoZan (1997) đã đưa ra khái niệm: sinh trưởng của cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận 4 như thịt, xương, da, …. Nhưng bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác. Theo Leo và Gatner (1898) sự sinh trưởng trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích, tăng các chất ở mô tế bào để tạo sự sống, trong đó tăng số lượng và tăng thể tích là quá trình quan trọng nhất. Theo Trần Đình Miên và cs.
(1992) định nghĩa đầy đủ: “Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền của đời trước”. Sự sinh trưởng chính là quá trình tích luỹ dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ các chất cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Mà sự hoạt động của gen điều khiển này chịu ảnh hưởng của hệ thống tuyến nội tiết. Đặc biệt là hormon STH (Somato Tropin Hormon) của thuỳ trước tuyến yên, có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình sinh trưởng của sinh vật.
Trần Đình Miên & Nguyễn Kim Đường (1992) cho biết: Midedorpho A. F (1867) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi. Theo Johanson (1972), cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật. Ở giai đoạn phôi là quá trình hình thành, phát triển đến chỉ tiêu phát triển của tổ chức mới của cơ thể.
Còn giai đoạn sau khi nở, sự sinh trưởng là sự lớn lên của các mô, sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào. Sự sinh trưởng ở gia cầm sau khi sinh nở được chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ gà con và thời kỳ gà trưởng thành. Thời kỳ gà con: trong thời kì này, tế bào tăng nhanh cả về số lượng, kích thước và khối lượng nên gia cầm có tốc độ sinh trưởng nhanh với cường độ mạnh. Một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ 5 tiêu hóa.
Các men tiêu hóa chưa đầy đủ, gà con dễ bị ảnh hưởng của thức ăn và nuôi dưỡng. Do đó, chất lượng thức ăn và kĩ thuật nuôi dưỡng ở thời kì này ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm. Gà con rất nhạy cảm với sự thay đổi của điều kiện nuôi dưỡng, đặc biệt là nhiệt độ. Trong những ngày đầu, nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà con, do thân nhiệt chưa ổn định.
Trong thời kì này cũng diễn ra quá trình thay lông. Đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, làm tăng quá trình trao đổi chất, quá trình tiêu hóa, hấp thu, tuần hoàn, là thời kì gà phát triển nhanh và mạnh nhất lượng thức ăn thu nạp vào ít, đồng thời sinh trưởng và phát triển khối lượng nhanh và cao nhất. Do đó cần chú ý việc úm, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và môi trường của gà con trong thời kỳ này thì các giai đoạn sau gà sẽ khỏe mạnh và phát triển mạnh hơn.