Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi gia cầm đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm cho xã hội. Tuy nhiên, đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh ký sinh trùng phát triển, đặc biệt là bệnh cầu trùng (Coccidiosis) do các loài nguyên sinh động vật đơn bào gây ra. Bệnh cầu trùng xuất hiện phổ biến ở tất cả các phương thức chăn nuôi gia cầm, từ nuôi nhốt tập trung đến bán chăn thả. Bệnh thường không gây tỷ lệ tử vong ồ ạt ở gà trưởng thành nhưng dẫn đến tổn thương nghiêm trọng niêm mạc đường tiêu hóa, làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng, khiến gà còi cọc, chậm lớn, suy giảm hệ miễn dịch và dễ kế phát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác.

Trước thực trạng nhiều chủng cầu trùng có biểu hiện nhờn thuốc và kháng thuốc do người chăn nuôi lạm dụng một số hoạt chất trong thời gian dài, việc thử nghiệm và đánh giá định kỳ hiệu lực của các chế phẩm thú y thương mại là yêu cầu cấp thiết. Đề tài khóa luận "Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea đến hiệu quả phòng trị bệnh Cầu trùng trên gà Ri lai nuôi bán chăn thả" của sinh viên Trần Văn Hậu (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn này.

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  • Mục đích: Tạo cơ sở khoa học để đề xuất quy trình, biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng hiệu quả cho đàn gà nuôi bán chăn thả, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi và rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học chuyên ngành Thú y.

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Ri lai F1 (Trống Ri × Mái Lương Phượng).
    2. Xác định ảnh hưởng của việc dùng thuốc tới khả năng tăng khối lượng của gà Ri lai F1 (Ri × Lương Phượng).
    3. Xác định sự ảnh hưởng của việc dùng thuốc trong phòng và điều trị bệnh cầu trùng đối với các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà Ri lai F1 (Trống Ri × Mái Lương Phượng) nuôi theo phương thức bán chăn thả từ 1 đến 10 tuần tuổi (giai đoạn từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi); hai chế phẩm thuốc thú y phòng trị cầu trùng gồm Coxymax (chứa hoạt chất Sulphachlozine) và Anticoccidae – Diarrhoea (chứa hoạt chất Sulfachloropyridazine).
    • Địa điểm nghiên cứu: Xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
    • Thời gian tiến hành: Từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 18 tháng 11 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết dịch tễ học và bệnh lý học thú y về bệnh cầu trùng gia cầm. Căn bệnh cầu trùng ở gà do các loài nguyên sinh động vật đơn bào thuộc ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, giống Eimeria gây ra. Chu kỳ sinh học của Eimeria kéo dài từ 5 đến 7 ngày, gồm 3 giai đoạn: sinh sản vô tính (trực phân trong tế bào biểu mô ruột), sinh sản hữu tính (hình thành giao tử đực, giao tử cái và kết hợp thành hợp tử nội sinh) và sinh bào tử ở môi trường ngoại cảnh tạo noãn nang gây nhiễm (Oocyst). Trong tài liệu tổng quan, tác giả thống kê 9 loài Eimeria phổ biến ký sinh ở gà gồm: E. tenella, E. necatrix, E. maxima, E. acervulina, E. mitis, E. brunetti, E. mivatia, E. praecox, E. hagani.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai theo mô hình chia lô so sánh trực tiếp trên đàn gà thí nghiệm:

Chỉ tiêu bố trí Lô thí nghiệm I Lô thí nghiệm II
Giống gà Ri lai F1 (Trống Ri × Mái Lương Phượng) Ri lai F1 (Trống Ri × Mái Lương Phượng)
Số lượng gà 150 con (3 lần lặp lại × 50 con) 150 con (3 lần lặp lại × 50 con)
Thời gian theo dõi 1 – 10 tuần tuổi 1 – 10 tuần tuổi
Chế độ dinh dưỡng 1 – 4 tuần tuổi: D1; 4 – 10 tuần tuổi: D56, D57 1 – 4 tuần tuổi: D1; 4 – 10 tuần tuổi: D56, D57
Phương thức nuôi 1 – 3 tuần: nuôi nhốt (úm); 4 – 10 tuần: bán chăn thả 1 – 3 tuần: nuôi nhốt (úm); 4 – 10 tuần: bán chăn thả
Thuốc thử nghiệm Coxymax (Sulphachlozine) Anticoccidae – Diarrhoea (Sulfachloropyridazine)
Phác đồ phòng bệnh Liều 1 g/1 lít nước uống, liệu trình 2.3 Liều 1 g/1 lít nước uống, liệu trình 2.3
Phác đồ trị bệnh Liều 2 g/1 lít nước uống, uống liên tục 3 ngày Liều 2 g/1 lít nước uống, uống liên tục 3 ngày

Các phương pháp thu thập và xử lý số liệu chuyên môn bao gồm:

  • Phương pháp xét nghiệm phân Fulleborn: Thu thập phân tươi vào sáng sớm định kỳ ở các tuần tuổi từ 1 đến 10 (tổng cộng 240 mẫu, 120 mẫu/lô). Phân được hòa tan với dung dịch nước muối ăn (NaCl) bão hòa (tỷ trọng cao hơn noãn nang, pha theo tỷ lệ khoảng 380 g muối/lít nước sôi), lọc bỏ cặn thô, rót vào lọ Penicillin và đặt phiến kính lên miệng lọ trong 30 phút để noãn nang nổi lên bám vào phiến kính. Soi tiêu bản dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần (vật kính 10, thị kính 10) để tính tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm qua số lượng noãn nang trên một vi trường theo 5 mức: âm tính (-), nhẹ (+: 1-2 noãn nang), trung bình (++: 3-4 noãn nang), nặng (+++: 5-6 noãn nang), rất nặng (++++: ≥ 7 noãn nang).
  • Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn: Cân khối lượng cá thể cố định vào 6–7 giờ sáng trước khi cho ăn bằng cân đồng hồ chính xác ± 2 g để tính sinh trưởng tích lũy (g/con), sinh trưởng tuyệt đối $A = (P_2 - P_1)/t$ (g/con/ngày), sinh trưởng tương đối $R$, tỷ lệ nuôi sống (%), khối lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày, tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng (FCR), chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sinh vật học theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2002), tính toán các tham số trung bình ($\bar{X}$), sai số ($\pm m_x$), hệ số biến dị ($C_v%$) bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm và trở ngại lớn do dịch bệnh, đặc biệt là bệnh cầu trùng gây còi cọc và thiệt hại kinh tế. Phần này xác định rõ mục đích nghiên cứu, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dẫn liệu về hiệu lực của hai chế phẩm Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea, cùng ý nghĩa thực tiễn đối với công tác thú y tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan hệ thống hóa toàn diện các kiến thức kinh điển và hiện đại về bệnh cầu trùng:

  • Đặc tính sinh học và tác nhân: Mô tả hình thái, cấu tạo 3 lớp vỏ noãn nang, vòng đời sinh sản vô tính - hữu tính - sinh bào tử của giống Eimeria. Thống kê chi tiết đặc điểm hình thái học, kích thước, thời gian sinh bào tử và vị trí ký sinh chuyên biệt của 9 loài Eimeria ở gà (tiêu biểu như E. tenella gây xuất huyết manh tràng, E. necatrix ở ruột non, E. acervulina ở tá tràng).
  • Dịch tễ, bệnh sinh và miễn dịch: Phân tích cơ chế gây bệnh phá hủy biểu mô ruột, gây viêm xuất huyết, rối loạn hấp thu và nhiễm độc tố; hiện tượng miễn dịch có trùng phụ thuộc loài và liều cảm nhiễm; các thể bệnh lâm sàng (cấp tính, mãn tính, mang trùng không triệu chứng).
  • Biện pháp phòng trị: Điểm danh 6 nhóm hóa dược kháng cầu trùng chính (Sulfanilamit, Nitrofuran, Pyrimidin, Antibiotis, Pyridin, Toltrazuril), các loại thuốc nhập ngoại (Baycox, Avicox, ESB3, Coccistop 2000...) và thuốc nội địa (Anticoccid, Coccistop – ESB3, Sulfutil, RTD – Coccistop, Rigecoccin – WS, Bio – Anticoc, Marcoc, Vinacoc – ABC), cùng các dạng vắc-xin cầu trùng nhược độc (Livacox).
  • Đặc điểm giống gà và thuốc thí nghiệm: Tổng quan về con lai F1 (Trống Ri × Mái Lương Phượng) kết hợp chất lượng thịt của gà Ri bản địa và tốc độ lớn của gà Lương Phượng; thành phần dược chất của Coxymax (Sulphachlozine) và Anticoccidae – Diarrhoea (Sulfachloropyridazine 300g).
  • Tình hình nghiên cứu: Tổng hợp các công trình nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm, sự lưu hành noãn nang và hiệu lực phòng trị bệnh cầu trùng trong nước (Lê Văn Năm, Nguyễn Thị Kim Lan, Đào Trọng Đạt, Phan Lục, Trần Huê Viên...) và quốc tế (Hunter Archie, Orlow...).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày địa điểm nghiên cứu tại xã Quyết Thắng (TP. Thái Nguyên), khung thời gian 6 tháng (25/05/2015 – 18/11/2015), thiết kế thí nghiệm 2 lô (mỗi lô 150 con gà Ri lai F1 chia 3 lần lặp lại), quy trình chăm sóc nuôi dưỡng chuyển tiếp từ nuôi nhốt sang bán chăn thả ở 4 tuần tuổi, chi tiết kỹ thuật xét nghiệm phân Fulleborn và công thức toán học xác định các chỉ tiêu sinh trưởng, chuyển hóa thức ăn, hạch toán chi phí thuốc.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương kết quả bao gồm hai nội dung chính:

  • Công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở: Nuôi dưỡng thành công 700 con gà thịt với tỷ lệ sống đạt 96,42% (675/700 con); thực hiện tiêm phòng vắc-xin Newcastle, Gumboro, IB-ND đạt tỷ lệ bảo hộ 100% (700/700 con); điều trị thành công bệnh bạch lỵ với tỷ lệ khỏi 92% (23/25 con bằng phác đồ Ampi – Coli và Colistin) và bệnh hô hấp mãn tính CRD với tỷ lệ khỏi 93,42% (654/700 con bằng phác đồ Tilmicox).
  • Kết quả chuyên đề nghiên cứu:
    1. Tỷ lệ nuôi sống: Cả hai lô I và II đều đạt tỷ lệ nuôi sống 100% qua tất cả các tuần tuổi từ tuần 1 đến tuần 10.
    2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng: Xét nghiệm 240 mẫu phân cho thấy lô II (dùng Anticoccidae – Diarrhoea) có tỷ lệ nhiễm thấp hơn (35,83% - 43/120 mẫu) so với lô I (dùng Coxymax: 43,33% - 52/120 mẫu). Động thái nhiễm theo lứa tuổi cho thấy tuần 1 không phát hiện noãn nang; tỷ lệ và cường độ nhiễm tăng cao nhất ở giai đoạn 3 – 6 tuần tuổi (đạt 50,00% – 66,67% ở cả 2 lô), sau đó giảm dần từ tuần 7 đến tuần 10 (lô I còn 25,00%, lô II còn 8,33% ở tuần 10). Tác giả lý giải hiệu lực vượt trội của Anticoccidae – Diarrhoea do đây là thuốc mới đưa vào trại, mầm bệnh chưa kịp hình thành tính kháng thuốc so với Coxymax vốn đã dùng lâu năm.
    3. Sinh trưởng tích lũy và tuyệt đối: Khối lượng cơ thể ở 10 tuần tuổi của lô I đạt 1455,43 ± 35,61 g/con, lô II đạt 1433,07 ± 36,54 g/con (sai khác không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05). Sinh trưởng tuyệt đối bình quân giai đoạn sơ sinh – 10 tuần tuổi đạt 20,29 ± 0,51 g/con/ngày (lô I) và 19,96 ± 0,52 g/con/ngày (lô II), đạt đỉnh cao nhất ở tuần 8 – 9.
    4. Khả năng thu nhận và tiêu tốn thức ăn: Tổng lượng thức ăn tiêu thụ/con trong 10 tuần ở lô I là 3807,40 g, lô II là 3798,88 g. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng (FCR cộng dồn) ở 10 tuần tuổi là 2,68 kg (lô I) và 2,72 kg (lô II).
    5. Hạch toán chi phí thuốc: Chi phí thuốc phòng trị cầu trùng tính trên 1 kg gà hơi xuất bán ở lô I là 328,53 đồng/kg, ở lô II là 334,08 đồng/kg (lô II cao hơn lô I là 5,55 đồng/kg, tương đương 101,69% so với lô I).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các chỉ số sinh học đạt được của hai loại thuốc trên đàn gà thí nghiệm và đưa ra khuyến nghị thực tiễn về việc tuân thủ lịch dùng thuốc phòng bệnh, luân phiên thay đổi nhóm thuốc kháng cầu trùng theo chu kỳ để ngăn chặn hiện tượng kháng thuốc.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chính của khóa luận

Chỉ tiêu theo dõi Lô I (Thuốc Coxymax) Lô II (Thuốc Anticoccidae – Diarrhoea) So sánh / Đánh giá
Quy mô mẫu theo dõi (con) 150 150 Tương đương
Tỷ lệ nuôi sống 1–10 tuần tuổi (%) 100,00 100,00 Không có sự sai khác
Tỷ lệ mẫu phân nhiễm cầu trùng (%) 43,33 (52/120 mẫu) 35,83 (43/120 mẫu) Lô II thấp hơn Lô I là 7,50%
Tỷ lệ nhiễm mức độ nhẹ (+) (%) 57,69 (30/52 mẫu nhiễm) 72,09 (31/43 mẫu nhiễm) Lô II nhiễm nhẹ chiếm ưu thế
Tỷ lệ nhiễm mức trung bình (++) (%) 26,92 (14/52 mẫu nhiễm) 14,60 (8/43 mẫu nhiễm) Lô II thấp hơn Lô I
Tỷ lệ nhiễm mức độ nặng (+++) (%) 11,54 (6/52 mẫu nhiễm) 6,98 (3/43 mẫu nhiễm) Lô II thấp hơn Lô I
Tỷ lệ nhiễm mức rất nặng (++++) (%) 3,85 (2/52 mẫu nhiễm) 2,33 (1/43 mẫu nhiễm) Lô II thấp hơn Lô I
Khối lượng lúc sơ sinh (g/con) 34,95 ± 0,41 36,18 ± 0,58 Tương đương
Khối lượng ở 4 tuần tuổi (g/con) 450,83 ± 9,74 449,77 ± 8,68 Chênh lệch 1,06 g
Khối lượng kết thúc 10 tuần tuổi (g/con) 1455,43 ± 35,61 1433,07 ± 36,54 P > 0,05 (không sai khác rõ rệt)
Sinh trưởng tuyệt đối TB (g/con/ngày) 20,29 ± 0,51 19,96 ± 0,52 Tương đương
Tổng lượng TĂ tiêu thụ/con (g) 3807,40 3798,88 Lô I cao hơn Lô II là 8,52 g
Tiêu tốn thức ăn FCR cộng dồn (kg TĂ/kg tăng KL) 2,68 2,72 Lô II tiêu tốn hơn Lô I là 0,04 kg
Tổng khối lượng tăng toàn lô (kg) 213,07 209,53 -
Tổng chi phí thuốc/lô (đồng) 70.000 (2 gói × 35.000 đ) 70.000 (2 gói × 35.000 đ) -
Chi phí thuốc/1 kg gà hơi (đồng/kg) 328,53 334,08 Lô II cao hơn 5,55 đồng/kg

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Cần áp dụng quy trình dùng thuốc phòng bệnh cầu trùng nghiêm ngặt ngay từ giai đoạn gà con (từ 1 tuần tuổi) đến khi xuất bán theo liệu trình gián đoạn (như liệu trình 2.3: uống 2 ngày, nghỉ 3 ngày hoặc uống 3 ngày, nghỉ 2 ngày) kết hợp vệ sinh độn lót chuồng khô ráo.
  • Trong sản xuất, bắt buộc phải thay đổi luân phiên các nhóm thuốc kháng cầu trùng định kỳ (từ 3 đến 4 năm một lần hoặc sau 10 đến 12 lứa nuôi) để tránh hiện tượng ký sinh trùng quen thuốc và kháng thuốc.
  • Khi một loại thuốc đã được dùng liên tục để phòng bệnh trong đàn, nếu phát sinh ổ dịch lâm sàng thì phải chuyển sang dùng nhóm thuốc có hoạt chất và cơ chế tác động khác để điều trị nhằm rút ngắn thời gian khỏi bệnh.

Đóng góp thực tiễn của đề tài

Khóa luận đã cung cấp số liệu thực nghiệm chuẩn xác về hiệu quả phòng ngừa bệnh cầu trùng và các chỉ số tăng trưởng, chuyển hóa thức ăn của gà Ri lai F1 nuôi bán chăn thả tại vùng trung du Bắc Bộ (Thái Nguyên). Kết quả chứng minh chế phẩm chứa Sulfachloropyridazine (Anticoccidae – Diarrhoea) có khả năng ức chế noãn nang cầu trùng tốt hơn Sulphachlozine (Coxymax) tại cơ sở nghiên cứu nhờ hạn chế được tính kháng thuốc cục bộ, trong khi cả hai loại thuốc đều an toàn và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tăng trọng của gia cầm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thí nghiệm chỉ được triển khai trong phạm vi một vụ nuôi (tháng 5 đến tháng 11) trên tổ hợp lai duy nhất là gà Ri lai F1 tại một địa bàn nông hộ thuộc xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên. Quá trình kiểm tra phân bằng phương pháp Fulleborn chỉ dừng lại ở việc định lượng mật độ noãn nang trên vi trường quang học, chưa tiến hành phân lập, định danh chi tiết tỷ lệ nhiễm của từng loài Eimeria cụ thể trong các mẫu bệnh phẩm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo nghiệm so sánh thêm các nhóm hoạt chất kháng cầu trùng thế hệ mới (như nhóm Toltrazuril, Diclazuril hoặc thảo dược) trên các mùa vụ khác nhau trong năm (đặc biệt là vụ Đông - Xuân ẩm ướt); đồng thời ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử hoặc nuôi cấy sinh bào tử để giám định chính xác cơ cấu các loài Eimeria lưu hành và đánh giá mức độ kháng thuốc di truyền của chúng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với:

  • Sinh viên và học viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp tài liệu mẫu về phương pháp bố trí thí nghiệm chia lô so sánh trên gia cầm thịt; hướng dẫn chi tiết quy trình kỹ thuật xét nghiệm phân tìm noãn nang ký sinh trùng bằng phương pháp phù nổi Fulleborn; công thức tính toán các chỉ tiêu tăng trọng tuyệt đối, tương đối, FCR, PI và EN.
  • Bác sĩ thú y cơ sở và người chăn nuôi gà bán chăn thả: Cung cấp dữ liệu thực tế về quy luật phát sinh bệnh cầu trùng theo tuần tuổi (trọng điểm từ 3 đến 6 tuần tuổi) để chủ động xây dựng lịch dùng thuốc phòng ngừa; tham khảo phác đồ sử dụng thuốc thú y và dự trù kinh phí thuốc phòng trị cầu trùng trên mỗi kilôgam gà thương phẩm xuất chuồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Giai đoạn tuần tuổi nào gà Ri lai F1 mẫn cảm và có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao nhất trong nghiên cứu?
Trả lời: Giai đoạn từ 3 đến 6 tuần tuổi là thời kỳ gà mẫn cảm và nhiễm cầu trùng nặng nhất. Tỷ lệ nhiễm ở lô I dao động từ 58,33% đến 66,67% (với cường độ nhiễm nặng +++ và rất nặng ++++ xuất hiện từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 6); ở lô II tỷ lệ nhiễm dao động từ 50,00% đến 66,67%. Sau 6 tuần tuổi, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần do gà hình thành sức đề kháng và tác động của thuốc.

2. Giữa hai loại thuốc thử nghiệm, loại thuốc nào cho hiệu quả giảm tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng tốt hơn?
Trả lời: Thuốc Anticoccidae – Diarrhoea (Lô II) cho hiệu quả phòng trị cao hơn với tổng tỷ lệ nhiễm qua 120 mẫu phân là 35,83%, thấp hơn so với 43,33% ở lô dùng Coxymax (Lô I). Đồng thời, ở Lô II, các mẫu nhiễm chủ yếu ở mức độ nhẹ (+) chiếm 72,09% (so với 57,69% ở Lô I) và tỷ lệ nhiễm nặng/rất nặng thấp hơn rõ rệt.

3. Việc sử dụng hai loại thuốc phòng trị cầu trùng có làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng xuất bán của đàn gà không?
Trả lời: Không. Khối lượng tích lũy kết thúc 10 tuần tuổi của gà ở Lô I đạt 1455,43 ± 35,61 g/con và Lô II đạt 1433,07 ± 36,54 g/con; sự sai khác giữa hai lô là không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$). Cả hai chế phẩm đều đảm bảo an toàn sinh học và giúp đàn gà tăng trưởng bình thường.

4. Chi phí thuốc phòng trị bệnh cầu trùng cho 1 kg gà hơi thương phẩm giữa hai lô có sự chênh lệch như thế nào?
Trả lời: Chi phí thuốc tính trên 1 kg gà hơi xuất bán ở Lô I (dùng Coxymax) là 328,53 đồng/kg, trong khi ở Lô II (dùng Anticoccidae – Diarrhoea) là 334,08 đồng/kg. Lô II có chi phí cao hơn Lô I là 5,55 đồng/kg (tương đương 101,69% so với Lô I), nhưng đổi lại mang lại hiệu quả kiểm soát mầm bệnh cầu trùng vượt trội hơn.

5. Tác giả đã sử dụng kỹ thuật xét nghiệm nào để kiểm tra và đánh giá cường độ noãn nang cầu trùng trong phân gà?
Trả lời: Tác giả sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborn bằng cách hòa tan mẫu phân trong dung dịch nước muối ăn (NaCl) bão hòa (khoảng 380 g muối/lít nước sôi), thu nhận noãn nang nổi lên bề mặt trên phiến kính sau 30 phút và soi đếm mật độ noãn nang dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Văn Hậu đã thực hiện đánh giá thực nghiệm toàn diện về hiệu lực của hai chế phẩm kháng cầu trùng Coxymax và Anticoccidae – Diarrhoea trên 300 gà Ri lai F1 nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu xác định chế phẩm Anticoccidae – Diarrhoea (hoạt chất Sulfachloropyridazine) có hiệu quả ức chế tỷ lệ và cường độ nhiễm noãn nang cầu trùng tốt hơn so với Coxymax (hoạt chất Sulphachlozine) do hạn chế được tính kháng thuốc tại trại nuôi, trong khi cả hai lô đều duy trì tỷ lệ nuôi sống 100% cùng các chỉ số sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn tương đương nhau. Công trình cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng giúp người chăn nuôi gia cầm xây dựng quy trình phòng trị cầu trùng luân phiên, kiểm soát dịch bệnh và tối ưu hóa chi phí thú y trong chăn nuôi gà bán chăn thả.