ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1.500 triệu con Bò sữa nhưng đươc phân bố không đều giữa các châu lục. Sự phân bố này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa lý tự nhiên của mỗi nước và tập trung chủ yếu ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Úc. Đan Mạch là một trong những nước chăn nuôi bò sữa phát triển nhất thế giới. Số lượng trang trại chăn nuôi bò sữa của Đan Mạch vào năm 2020 là 2691 hộ, với số lượng bò sữa được công bố là 561 nghìn con.
Tổng sản lượng sữa sản xuất đạt 5,66 tỷ kg. Trong đó, sản lượng sữa tươi đạt 786 triệu kg, sản lượng bơ đạt 73 triệu kg, pho mát đạt 468 triệu kg và sản phẩm sữa bột là 253 triệu kg (danishdairyboard. Đàn bò sữa trung bình của một trang trại là 156 con. Các trang trại lớn với đàn bò sữa lên đến 500 con cũng được biết đến khá nhiều ở Đan Mạch.
Sản lượng sữa trung bình mỗi năm khoảng 1,4 triệu lít. Tuy nhiên, để có một đàn bò sữa tốt thì cần xuất phát từ một đàn bê cái tốt, bê cái là tương lai của trang trại hay nói khác đi là sự thành công của trang trại bò sữa được bắt đầu từ việc nuôi dưỡng bê cái. Nếu chăn nuôi bê tốt, bê có tốc độ phát triển tốt, ít bệnh tật thì quá trình chăn nuôi bò sau này sẽ gặp thuận lợi, hiệu quả kinh tế sẽ cao. Trong chăn nuôi bò sữa, người chăn nuôi ngoài việc chú trọng đến công tác giống, chế độ dinh dưỡng còn cần quan tâm đến chăm sóc và quản lý bò sữa tốt vì bò sữa rất dễ mẫn cảm với một số yếu tố môi trường và bệnh.
Việc nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, cũng như sử dụng một số hàm hồi quy phi tuyến tính để mô tả sinh trưởng của bò sữa HF là cần thiết nhằm tìm ra giải pháp giúp cho đàn bò sữa có khả năng phát triển và sức sản xuất sữa tốt nhất. 1 Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Khả năng sinh trưởng của bò Holstein Friesian nuôi tại trang trại Fuglsigvej Mælk, Đan Mạch 1. MỤC ĐÍCH – Ý NGHĨA THỰC TIỄN 1. Mục đích của đề tài - Theo dõi khả năng sinh trưởng của bê HF thuần nuôi tại Đan Mạch qua các giai đoạn: + Từ sơ sinh – 70 ngày tuổi, + Từ 70 – 180 ngày tuổi + Từ 12 – 24 tháng tuổi.
- Xác định khối lượng cơ thể qua các giai đoạn tuổi bằng phương pháp sử dụng hàm hồi quy phi tuyến tính để mô tả và lựa chọn mô hình sinh trưởng phù hợp nhất ước tính khối lượng cơ thể của bò hậu bị HF thuần nuôi tại Đan Mạch. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Trên cơ sở đánh giá khả năng sinh trưởng bò HF sẽ góp phần duy trì, phát triển chăn nuôi bò sữa tại trang trại. Đồng thời đóng góp thêm tư liệu về ước tính khối lượng của bò thông qua tháng tuổi bằng các hàm hồi quy phi tuyến tính phục vụ công tác chọn giống nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò sữa HF nuôi tại Đan Mạch. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ SỮA TRÊN THẾ GIỚI, VIỆT NAM VÀ ĐAN MẠCH 2. Tình hình chăn nuôi bò sữa trên thế giới Ngành công nghiệp sữa toàn cầu đang phát triển với tốc độ mạnh mẽ và ổn định. Nhiều nước trên thế giới có truyền thống sản xuất sữa lâu đời và sữa với các chế phẩm từ sữa có vai trò quan trọng trong chế độ ăn. Với nhu cầu toàn cầu về các sản phẩm sữa tiếp tục tăng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, các nước sản xuất sữa lớn nhất thế giới, các nhà xuất khẩu và nhập khẩu sữa hàng đầu dự kiến sẽ tăng hơn nữa giá trị và khối lượng ngành sữa của họ, thúc đẩy tăng trưởng thị trường sữa toàn cầu tương lai gần.
Theo báo cáo mới nhất từ FAO, sản lượng sữa toàn cầu đạt gần 906 triệu tấn vào năm 2020, tăng 2% so với năm 2019, nhờ sản lượng tăng ở tất cả các khu vực địa lý, ngoại trừ châu Phi, nơi sản xuất vẫn ổn định. Sản lượng sữa tăng cao nhất ở Châu Á, tiếp theo là Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương và Trung Mỹ và Caribe. Ở châu Á, sản lượng sữa tăng lên 379 triệu tấn vào năm 2020, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu là do sự gia tăng chủ yếu ở Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ. Kazakhstan, Uzbekistan và Nhật Bản cũng đăng ký mở rộng sản xuất vừa phải.
Theo thống kê của FAO (2013), năm 2012 có 264 triệu bò sữa trên toàn thế giới, sản xuất gần 600 triệu tấn sữa mỗi năm. Trung bình toàn cầu mỗi con bò sản xuất 2.200 lít; trong đó, Mỹ là nước sản xuất lớn nhất (hơn 87 triệu tấn mỗi năm) và Ấn Độ có số lượng bò lớn nhất trên thế giới (hơn 40 triệu con bò sữa). Danh sách 15 nước có sản lượng sữa hàng đầu thế giới đã được trình bày như bảng 2. Danh sách 15 nước sản xuất sữa đứng đầu thế giới năm 2012 Tên nước Tấn sữa % sản xuất so với thế giới Mỹ 87.000 2,3 Thổ Nhĩ Kỳ 12.700 1,8 Thế giới 599 438 003 (Nguồn: FAO, 2013) Theo thống kê FAO (2014), 10 nước có sản lượng đứng đầu thế giới năm 2013 được trình bày tại bảng 2.
Danh sách 10 nước sản xuất sữa đứng đầu thế giới 2013 Tên nước Sản lượng Mỹ 91.000 Thổ Nhĩ Kỳ 16.895 (Nguồn: FAO, 2014) 4 Sản lượng sữa bò được sản xuất trên toàn thế giới đã tăng đều đặn trong vài năm qua. Năm 2015, 497 triệu tấn sữa bò được sản xuất trên toàn thế giới, đến năm 2020 con số này đã tăng lên khoảng 532 triệu tấn. Sữa nước chiếm thị phần lớn nhất về giá trị thị trường sữa. Khu vực thế giới có sản lượng sữa bò nhiều nhất là Liên minh châu Âu, với hơn 157 triệu tấn sữa bò vào năm 2020.
Trong năm đó, EU là quê hương của hơn 22 triệu con bò sữa, chỉ đứng sau Ấn Độ với 56 triệu con bò sữa. Nhà sản xuất sữa bò hàng đầu trên toàn thế giới là Liên minh Châu Âu vào năm 2020. Trong năm đó, 28 quốc gia của Liên minh Châu Âu đã sản xuất chung khoảng 157,5 triệu tấn sữa bò. Hoa Kỳ đứng thứ hai với sản lượng khoảng 101 triệu tấn.
Sản lượng sữa thế giới (81% sữa bò, 15% sữa trâu, và 4% cho sữa dê, cừu và lạc đà kết hợp) đã tăng 1,3% trong năm 2019 lên khoảng 852 triệu tấn. Tại Ấn Độ, nhà sản xuất sữa lớn nhất thế giới, sản lượng tăng 4,2% lên 192 triệu tấn, mặc dù điều này không ảnh hưởng nhiều đến thị trường sữa thế giới do Ấn Độ chỉ buôn bán một lượng nhỏ sữa và các sản phẩm từ sữa. Sản lượng sữa của ba nước xuất khẩu sữa lớn là New Zealand, Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ chỉ tăng nhẹ. Do tiêu thụ nội địa đối với các sản phẩm sữa ở ba quốc gia này ổn định, sự sẵn có của các sản phẩm sữa tươi1 và các sản phẩm chế biến để xuất khẩu tăng lên.
Tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là “Trung Quốc”), nhà nhập khẩu sữa lớn nhất thế giới, sản lượng sữa tăng 3,6% trong năm 2019. Nhập khẩu sữa của nước này, đặc biệt là sữa bột nguyên kem (WMP) và sữa bột gầy (SMP), tuy nhiên vẫn tăng vào năm 2019 do nhu cầu ngày càng tăng. Sản lượng sữa thế giới được dự báo sẽ tăng trưởng 1,6% / năm. (lên 997 triệu tấn vào năm 2029) trong thập kỷ tới, nhanh hơn hầu hết các mặt hàng nông nghiệp chính khác.
Trong khi tốc độ tăng đàn trung bình của thế giới (0,8% / năm) lớn hơn mức tăng năng suất trung bình của thế giới (0,7%), thì mức trung 5 bình thay đổi là kết quả của việc tăng đàn nhanh hơn ở các nước có sản lượng tương đối thấp. Ở hầu hết các khu vực trên thế giới, tăng trưởng năng suất dự kiến sẽ đóng góp nhiều hơn vào tăng sản lượng hơn là tăng đàn. Các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng năng suất bao gồm tối ưu hóa hệ thống sản xuất sữa, cải thiện sức khỏe vật nuôi, cải thiện hiệu quả cho ăn, cũng như di truyền tốt hơn. Ấn Độ và Pakistan dự kiến sẽ đóng góp vào hơn một nửa mức tăng trưởng sản lượng sữa thế giới trong 10 năm tới.
Chúng cũng được dự đoán sẽ chiếm hơn 30% sản lượng thế giới vào năm 2029. Sản lượng sẽ chủ yếu diễn ra ở các đàn nhỏ với một vài con bò hoặc trâu. Dự kiến sản lượng sẽ tiếp tục tăng nhanh và đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng sản xuất. Tuy nhiên, quy mô đàn gia tăng và sự phát triển hạn chế trong diện tích đồng cỏ đòi hỏi phải tăng cường sử dụng đồng cỏ.
Ở cả hai quốc gia, phần lớn sản lượng sẽ được tiêu thụ trong nước vì rất ít sản phẩm tươi và sản phẩm từ sữa được giao dịch quốc tế. Mối liên hệ giữa sản xuất sữa và thịt bò ít bền chặt hơn ở Ấn Độ, nơi vì lý do văn hóa, ngày càng ít bê và bò sữa già tham gia thị trường thịt bò. Sản xuất thịt bò ở Pakistan chủ yếu vẫn là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất sữa. Thống kê sản lượng sữa các nước hàng đầu thế giới năm 2012, 2013 cho thấy: năm 2012 Nga có sản lượng đứng thứ 4 thế giới (31.100 tấn) tụt xuống vị trí thứ 6 vào năm 2013 (30.969 tấn), năm 2012 Brazil là nước có sản lượng đứng thứ 5 thế giới (31.600 tấn) tăng lên vị trí thứ 4 năm 2013 (34.236 tấn), năm 2012 Đức có sản lượng (29.900 tấn) đứng thứ 6, đến năm 2013 Đức tăng lên đứng vị trí thứ 5 với sản lượng (31.
Năm 2012, Anh và Thổ Nhĩ Kỳ lần lượt đứng thứ 9, 10 với sản lượng (13.000 tấn), đến năm 2013, 2 vị trí này đổi cho nhau Anh có sản lượng (13.000 tấn) thấp hơn so với năm 2012 và Thổ Nhĩ Kỳ có sản lượng (16. Theo Erostat (2010), Liên minh Châu Âu có hơn 23 triệu con bò và sản xuất hơn 135 triệu tấn sữa mỗi năm. Trong Liên minh Châu Âu có 3 nước sản xuất sữa hàng đầu là: Đức, Pháp và Anh. 6 Năm 2014, FAO cho biết: sản xuất sữa bò thế giới trong năm 2013 đứng ở mức 636 triệu tấn.
Mỹ là nước sản xuất sữa bò lớn nhất trên thế giới (chiếm 14,4% sản lượng thế giới) và sản xuất 91 triệu tấn tăng 0,4% so với năm 2012.