CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nước ta có điều kiện khí hậu cận nhiệt đới là môi trường thuận lợi cho sự phát triển đa dạng các loài thực vật, đặc biệt là các cây dược liệu. Từ lâu, cây dược liệu dần trở nên quen thuộc và việc sử dụng cây dược liệu vào điều trị bệnh không còn quá xa lạ với người dân Việt Nam. Từ xa xưa, ông cha ta đã tận dụng những điều kỳ diệu mà thiên nhiên ban tặng để tạo ra các sản phẩm điều trị bệnh có nguồn gốc từ thực vật. Xã hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc con người phải đối đầu với những khó khăn và thử thách.
Có thể nói, khó khăn và thử thách lớn nhất phải gặp đó là sự xuất hiện của những căn bệnh mới, lạ đang đe dọa tính mạng con người. Hàng này, chúng ta phải đối mặt với những ảnh hưởng từ môi trường, các chất phụ gia trong thức ăn, căng thẳng trong làm việc, học tập,… là nguyên nhân làm phát sinh gốc tự do. Gốc tự do sinh ra quá mức sẽ vượt qua hệ thống bảo vệ cơ thể, dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm như Alzheimer, bệnh tim mạch, ung thư,… (Đặng Kim Thoa, 2017) và là tác nhân chủ yếu gây ra quá trình lão hóa. Do đó, cần tăng cường bổ sung các chất từ thực vật nhằm chống lại gốc tự do cho cơ thể, trung hòa các chất tự do cũng như hạn chế quá trình oxy hóa.
Trong thiên nhiên, các chất chống oxy hóa có từ nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng cây cỏ vẫn là nguồn quan tâm chủ yếu. Đồng thời, con người đang gặp các vấn đề về nhiễm khuẩn do thức ăn, nguồn nước, sinh hoạt. Việc lạm dụng thuốc kháng sinh để phòng trị bệnh sẽ gây hậu quả khó lường, dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh ở một số loài vi khuẩn. Đây là vấn đề khó kiểm soát và nan giải cho con người.
Nhắc tới cây dược liệu thì không thể nào không nhắc đến cây An xoa. Trong dân gian, đã cho ra đời nhiều bài thuốc từ cây An xoa. Cây An xoa được xem là thần dược trong điều trị bệnh. Được dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau như cảm cúm, sởi, kiết lỵ… và các bệnh về gan (Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, 2003; Hassler, 2015).
Khả năng chống viêm, ngăn ngừa ung thư, đặc biệt là chống oxy hóa và kháng khuẩn (Deendayal Patel và cs. Với những công dụng tuyệt vời như thế, nhưng các nghiên cứu về loài này vẫn còn rất hạn chế trong đó hướng nghiên cứu về khả năng kháng oxy hóa và kháng khuẩn là rất ít. Vì thế, việc tiến hành các nghiên cứu về cây An xoa đặc biệt nghiên cứu về khả năng kháng oxy hóa và kháng khuẩn là một vấn đề hết sức cần thiết, để 1 có thể chứng minh được lợi ích mà cây An xoa mang lại. Nghiên cứu “Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa và kháng khuẩn của cao chiết cây An xoa (Helicteres hirsuta L.)” được thực hiện.
Nhằm tìm ra các chất chống oxy hóa và kháng khuẩn cho cơ thể để nâng cao và bảo vệ sức khỏe con người, có nguồn gốc từ tự nhiên.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn từ cao chiết cây An xoa (Helicteres hirsuta L.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Cây An xoa được thu hái tại thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Chủng vi khuẩn E. coli được lấy từ phòng thí nghiệm chăn nuôi thú y, Trường Đại học An Giang.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Khảo sát ảnh hưởng của dung môi đến hiệu suất thu hồi cao chiết từ lá cây An xoa. Khảo sát khả năng kháng khuẩn của cao chiết từ lá cây An xoa trên đĩa môi trường thạch với các nồng độ khác nhau.
Khảo sát khả năng kháng oxy hóa của cao chiết từ lá cây An xoa với các nồng độ khác nhau.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Đóng góp về mặt khoa học: Đề tài là cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về cây An xoa và là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về cây An xoa. Đóng góp về mặt thực tiễn: Đa dạng hóa các loại cây dược liệu, dùng cho các nghiên cứu về thuốc điều trị bệnh. Nhằm tìm hiểu sâu hơn về tác dụng và giá trị cây An xoa mang lại. Đồng thời, giúp giải thích rõ về việc điều trị bệnh của cây An xoa.
Đặc biệt là khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn của cây An xoa. Hướng tới sử dụng làm nguyên liệu sản xuất Dược phẩm và thực phẩm chức năng. 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Định nghĩa Cao thuốc là những chế phẩm được điều chế bằng cách cô đến độ đậm đặc nhất định các dịch chiết thu được từ các dược liệu (Bằng Văn Thái, 2017).2 Đặc điểm Cao thuốc đã được loại một phần hoặc loại hoàn toàn các tạp chất có trong dịch chiết (chất nhày, chất béo, chất nhựa,…). Tỷ lệ hoạt chất trong cao thuốc (cao đặc, cao khô…) thường cao hơn hoặc bằng tỷ lệ hoạt chất trong dược liệu.
Cao thuốc ít khi được sử dụng trực tiếp để điều trị mà thường là chế phẩm trung gian để điều chế các dạng thuốc khác. Cao thuốc có chứa toàn bộ các hoạt chất và các chất có tác dụng hỗ trợ (Bằng Văn Thái, 2017).1 Phân loại theo thể chất của cao Cao khô là một khối bột khô, đồng nhất, rất dễ hút ẩm. Cao khô không được có độ ẩm lớn hơn 5% (Lê Quan Niệm và Huỳnh Văn Hóa, 2017). Cao đặc là một khối đặc quánh.
Hàm lượng dung môi dùng để chiết xuất còn lại trong cao đặc không quá 20% (Lê Quan Niệm và Huỳnh Văn Hóa, 2017). Cao lỏng có thể chất lỏng hơi sánh, có mùi vị đặc trưng của dược liệu dùng để điều chế cao. Nếu không có chỉ dẫn khác, qui ước 1 mL cao lỏng tương ứng với 1 g dược liệu dùng để chế cao thuốc (Lê Quan Niệm và Huỳnh Văn Hóa, 2017).2 Phân loại dựa trên dung môi Cao thuốc điều chế với dung môi nước như cao đặc Cam thảo, cao đặc Đại hoàng (Võ Xuân Minh và Nguyễn Văn Long). Cao thuốc điều chế với dung môi ethanol như cao lỏng Mã tiền, cao lỏng banladon (Võ Xuân Minh và Nguyễn Văn Long).3 Phân loại dựa trên phương pháp chiết xuất Cao điều chế theo phương pháp ngâm lạnh, cao điều chế theo phương pháp ngấm kiệt (Lê Quan Nghiệm, Huỳnh Văn Hóa, 2011).4 Phương pháp điều chế 2.1 Điều chế dịch chiết Đây là giai đoạn quyết định chất lượng của cao thuốc, đồng thời cũng liên quan đến giá thành sản phẩm và hiệu quả kinh tế trong sản xuất.
Dược liệu được phân chia thành bột có kích thước 0,2 – 2 mm tùy theo loại dược liệu và dung môi. Dung môi chiết xuất được chọn tùy theo bản chất của hoạt chất, tạp chất trong dược liệu và tùy phương pháp chiết. Dung môi nước có thể áp dụng các phương pháp ngâm lạnh, hầm, hãm, sắc. Dung môi là ethanol thường áp dụng phương pháp ngấm kiệt hay ngâm lạnh (Bằng Văn Thái, 2017).2 Loại tạp chất Khi dịch chiết có quá nhiều tạp chất ảnh hưởng đến hoạt chất hoặc chất lượng cao thuốc trong quá trình bảo quản như làm kết tủa hoạt chất, làm đục cao lỏng, làm cho khó bảo quản… thì phải tiến hành loại tạp chất trong dịch chiết.
Quá trình loại tạp chất thường gắn liền với quá trình cô đặc dịch chiết (Bằng Văn Thái, 2017). Một số phương pháp loại tạp chất thường được áp dụng: Loại tạp chất tan trong nước bằng nhiệt hay ethanol cao độ, loại tạp chất tan trong ethanol bằng nước nóng, nước acid hóa parafin rắn, loại tạp bằng cách thay đổi pH (Bằng Văn Thái, 2017).3 Cô đặc hoặc làm khô Đây là giai đoạn có ảnh hưởng đến hoạt chất và chất lượng cao (Bằng Văn Thái, 2017). Khi cô đặc dịch chiết, nhiệt độ cô đặc càng thấp càng tốt, thời gian cô đặc càng nhanh càng tốt, thu hồi các dung môi. Trong quá trình tiến hành, cần tiến hành khuấy trộn để tránh tạo váng ở bề mặt, cản trở sự bốc hơi (Bằng Văn Thái, 2017).
Khi điều chế cao khô cần tiến hành làm khô dịch chiết đã cô đặc hoặc cao mềm đến khi thành dạng khô chỉ còn không quá 5% nước (Bằng Văn Thái, 2017). Nếu hoạt chất trong dịch chiết ít bị phân hủy bởi nhiệt, thì có thể làm khô trong tủ sấy ở 60 – 70 oC. Nếu hoạt chất dễ bị hư bởi nhiệt thì dùng phương pháp sấy dưới áp suất giảm ở nhiệt độ dưới 50 oC (áp suất tương ứng 10 – 15 mmHg) hoặc làm khô bằng máy phun sương (làm khô dịch chiết ở thể cao lỏng). Trong trường hợp hoạt chất rất dễ bị hỏng bởi nhiệt như dịch chiết có chứa các vitamin, các nội tiết tố, các enzyme… thì áp dụng phương pháp đông khô (dùng máy đông khô) (Bằng Văn Thái, 2017).4 Điều chỉnh chất lượng hoạt chất trong cao Cao thuốc phải được tiêu chuẩn hóa về mặt lý, hóa học nhằm làm cho chất lượng và tác dụng điều trị được đồng nhất ở tất cả các lô mẻ sản xuất (Lê Quan Nghiệm và Huỳnh Văn Hóa, 2011).5 Yêu cầu chất lượng Cao lỏng: Về cảm quan: cao lỏng thường có thể chất lỏng, sánh, đồng nhất, có màu nâu, không có tủa, có mùi vị của dược liệu ban đầu, không có vị chua, không có mùi oi khét (Bằng Văn Thái, 2017).
Độ tan: 1 g cao lỏng tan trong 20 mL dung môi dùng để chiết dược liệu khi điều chế. Nếu có tủa là do loại tạp chưa tốt, khi pha loãng làm thay đổi pH sẽ gây tủa keo (Bằng Văn Thái, 2017). Các chỉ tiêu khác: cắn khô sau khi bốc hơi, hàm lượng hoạt chất, pH, tiêu chuẩn vi sinh, tỷ trọng,…phải đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam. Tỷ trọng cao lỏng thường nằm trong khoảng từ 1,05 – 1,4 (Bằng Văn Thái, 2017).
Cao đặc, cao khô: Thể chất đặc, mềm dẻo, mịn đồng nhất, màu nâu đen, có mùi thơm đặc trưng của dược liệu điều chế cao, không chua, không có mùi lạ, đạt độ thủy phần quy định, hàm lượng hoạt chất và chỉ tiêu khác đạt yêu cầu quy định của chuyên luận (Bằng Văn Thái, 2017).2 HÒA TAN CHIẾT XUẤT 2.1 Định nghĩa Hòa tan chiết xuất là một quá trình kỹ thuật dùng dung môi để hòa tan và tách các chất tan ra khỏi dược liệu. Dung môi chứa chất tan thu được gọi là dịch chiết. Phần dược liệu sau khi chiết lấy dịch chiết gọi là bã. Quá trình hòa tan chiết xuất là quá trình hòa tan không hoàn toàn (Lê Quan Nghiệm và Huỳnh Văn Hóa, 2011).
Dịch chiết chủ yếu chứa các chất có tác dụng điều trị (hoạt chất) đồng thời còn có các chất bổ trợ, làm tăng tác dụng của hoạt chất.