Tổng quan nghiên cứu

Bệnh lý sỏi tiết niệu chiếm tỷ lệ từ 40% đến 60% trong tổng số các bệnh lý hệ tiết niệu tại Việt Nam cũng như các nước thuộc vùng khí hậu nhiệt đới. Trong đó, sỏi san hô thận là thể bệnh đặc biệt phức tạp và nguy hiểm, chiếm khoảng 28% tổng số bệnh nhân sỏi niệu điều trị nội trú. Sỏi san hô hình thành và phát triển âm thầm, đúc khuôn theo hệ thống đài bể thận, gây tắc nghẽn đường dẫn niệu, nhiễm khuẩn niệu tái diễn và nhanh chóng phá hủy nhu mô thận. Nếu chỉ điều trị nội khoa bảo tồn, tỷ lệ biến chứng suy thận mạn tính và tử vong do nhiễm khuẩn nhiễm độc có thể lên tới 30%, trong khi can thiệp ngoại khoa tích cực giúp hạ thấp tỷ lệ tử vong xuống dưới 5%.

Tại các bệnh viện tuyến tỉnh, việc tiếp nhận bệnh nhân có sỏi san hô kích thước lớn, phân nhánh phức tạp đến khám ở giai đoạn muộn vẫn rất phổ biến. Nghiên cứu của bác sĩ Trịnh Trọng Dũng dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Trần Đức Quí tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014 - 2015 được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: đánh giá kết quả gần của phẫu thuật điều trị sỏi san hô thận và phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phẫu thuật. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc chuẩn hóa chỉ định mổ mở, tối ưu hóa các kỹ thuật rạch nhu mô trên đường vô mạch, khống chế động mạch thận an toàn và nâng cao tỷ lệ bảo tồn chức năng thận tại các cơ sở y tế tuyến địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng giải phẫu phân thùy mạch máu và cấu trúc đài bể thận. Động mạch thận thường chia thành nhánh trước cấp máu cho 75% nhu mô và nhánh sau cấp máu cho 25% nhu mô còn lại. Vùng ranh giới giữa các hệ thống mạch máu tạo nên mặt phẳng vô mạch Brödel ở mặt sau thận, cho phép phẫu thuật viên rạch mở nhu mô mà không gây tổn thương các thân động mạch lớn.

Hệ thống phân loại sỏi áp dụng theo phân loại của Rocco F., tập trung vào nhóm sỏi bán san hô C4 (sỏi bể thận có 2 nhánh vào các nhóm đài) và sỏi san hô toàn phần C5 (sỏi đúc khuôn vào cả 3 nhóm đài trên, giữa, dưới). Hình thái bể thận được phân chia theo tiêu chuẩn của Nguyễn Thế Trường thành 5 nhóm từ B1 đến B5, xác định tỷ lệ bể thận nằm hoàn toàn trong xoang (B1), phần lớn trong xoang (B2), trung gian (B3), phần lớn ngoài xoang (B4) và ngoài xoang hoàn toàn (B5).

Về mặt sinh lý bệnh học, tình trạng thiếu máu thận cục bộ trong quá trình khống chế mạch máu làm suy giảm lượng năng lượng ATP tế bào. Ngưỡng thời gian thiếu máu an toàn ở nhiệt độ bình thường được xác định dưới 20 đến 30 phút. Khi phẫu thuật kéo dài, kỹ thuật hạ nhiệt độ thận tại chỗ xuống mức 15°C đến 20°C cho phép kéo dài thời gian thiếu máu an toàn lên tới 120 đến 180 phút mà không gây tổn thương cấu trúc tế bào không hồi phục.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp thu thập số liệu hồi cứu và tiến cứu trên các bệnh nhân được phẫu thuật lấy sỏi san hô thận tại Khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015.

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (hệ số Z = 1,96), tỷ lệ kết quả tốt mong muốn đạt p = 91% và sai số tuyệt đối cho phép d = 0,07, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 64 bệnh nhân. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện lấy toàn bộ các trường hợp phẫu thuật mổ mở có chẩn đoán sỏi san hô nhóm C4 và C5 thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính bao quát toàn bộ ca bệnh thực tế tại địa phương, phản ánh chính xác năng lực can thiệp ngoại khoa tuyến tỉnh.

Dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng được phân tích toàn diện: đánh giá mức độ giãn đài bể thận qua siêu âm (chia 3 giai đoạn), chức năng bài tiết qua chụp niệu đồ tĩnh mạch UIV ở các mốc thời gian 15, 30, 60 và 90 phút, định lượng urê và creatinin huyết thanh trước mổ cùng thời điểm ngày thứ 8 đến ngày thứ 12 sau mổ (ngưỡng suy thận xác định khi creatinin lớn hơn 106 μmol/l), chụp phim hệ tiết niệu không chuẩn bị KUB kiểm tra sót sỏi sau phẫu thuật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 64 bệnh nhân phẫu thuật sỏi san hô thận ghi nhận các phát hiện then chốt về mặt lâm sàng và kết quả can thiệp ngoại khoa:

Về đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh, tỷ lệ bệnh nhân có tổn thương chức năng thận trước mổ với nồng độ creatinin máu trên 106 μmol/l chiếm khoảng 31,3%. Trên hình ảnh siêu âm, hơn 78% bệnh nhân có biểu hiện giãn đài bể thận độ I và độ II. Đánh giá hình thái bể thận trên phim UIV cho thấy dạng bể thận trong xoang B1 và B2 chiếm tỷ lệ khoảng 42,2%, nhóm bể thận trung gian B3 chiếm 32,8%, còn lại là nhóm ngoài xoang B4 và B5.

Về lượng máu mất và kiểm soát cuống mạch, lượng máu chảy trong mổ được kiểm soát ở mức nhẹ dưới 250ml chiếm tới 76,6% tổng số ca phẫu thuật. Nhóm mất máu mức độ vừa từ 250ml đến 500ml chiếm 15,6%, và chỉ có 7,8% trường hợp mất máu nặng trên 500ml cần truyền máu. Kỹ thuật khống chế động mạch thận đơn thuần được thực hiện với thời gian kẹp mạch trung bình từ 14 đến 18 phút, đảm bảo phẫu trường khô ráo để bóc tách lấy sỏi triệt để.

Về kết quả làm sạch sỏi và hồi phục chức năng, tỷ lệ lấy sạch sỏi hoàn toàn kiểm tra qua phim KUB ngày thứ 7 đến ngày thứ 12 sau mổ đạt 78,1%, tỷ lệ sót sỏi chiếm 21,9% (chủ yếu là các mảnh sỏi nhỏ kích thước dưới 5mm nằm sâu ở các đài thận phụ). Chức năng bài tiết của thận bên mổ trên phim UIV cải thiện rõ rệt ở 84,4% bệnh nhân sau can thiệp, nồng độ creatinin máu trung bình sau mổ giảm từ mức 118,5 μmol/l xuống còn 94,2 μmol/l ở nhóm có suy thận nhẹ trước mổ.

Thảo luận kết quả

Mối liên quan giữa các yếu tố giải phẫu và kết quả phẫu thuật được thể hiện rõ nét qua phân tích thống kê. Hình thái bể thận đóng vai trò tiên lượng hàng đầu: các trường hợp bể thận trong xoang (B1, B2) có tỷ lệ chảy máu trong mổ trên 250ml cao gấp 2,8 lần so với nhóm bể thận ngoài xoang (B4, B5). Điều này có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cột thể hiện mối tương quan giữa phân loại bể thận với lượng máu mất và tỷ lệ sót sỏi.

Kỹ thuật mổ áp dụng linh hoạt giữa mở rộng bể thận theo Gil-Vernet cải tiến và rạch rộng nhu mô thận theo đường vô mạch Brödel mang lại tỷ lệ sạch sỏi cao tương đương các nghiên cứu lớn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đồng thời giảm thiểu tổn thương nhu mô. So sánh với các nghiên cứu phẫu thuật lấy sỏi qua da nhiều đường hầm (PCNL), phẫu thuật mở tại tuyến tỉnh vẫn chứng minh ưu thế vượt trội về mặt chi phí, tỷ lệ sạch sỏi trong một thì phẫu thuật duy nhất (đạt trên 78% so với 70 - 75% của nội soi nhiều lần) và hạn chế nguy cơ sốc nhiễm trùng huyết trên những quả thận ứ mủ. Biến chứng rò nước tiểu sau mổ được khống chế ở mức 4,7%, tất cả đều đáp ứng tốt với can thiệp đặt ống thông niệu quản JJ ngược dòng mà không cần phẫu thuật lại.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng điều trị ngoại khoa sỏi san hô thận tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị hành động cụ thể:

  1. Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán hình ảnh tiền phẫu: Chỉ định thực hiện chụp niệu đồ tĩnh mạch UIV đa thì kết hợp chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu đa dãy cho 100% bệnh nhân sỏi C4 và C5 trong vòng 24 đến 48 giờ sau khi nhập viện. Khoa Chẩn đoán hình ảnh phối hợp Khoa Ngoại Tiết niệu tiến hành đo đạc chính xác kích thước xoang thận và hình thái bể thận B1 - B5 để lập kế hoạch đường mổ tối ưu.
  2. Áp dụng nghiêm ngặt kỹ thuật khống chế động mạch thận: Đào tạo phẫu thuật viên làm chủ kỹ thuật bộc lộ và kẹp riêng động mạch thận chính hoặc nhánh sau động mạch thận, duy trì thời gian thiếu máu ấm dưới 20 phút. Đối với các ca sỏi san hô phức tạp dự kiến thời gian mổ trên 30 phút, bắt buộc triển khai kỹ thuật hạ nhiệt độ thận tại chỗ bằng đá lạnh vô khuẩn nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ mất máu nặng xuống dưới 5%.
  3. Thiết lập phác đồ đa mô thức xử trí sỏi sót: Khoa Ngoại Tiết niệu phối hợp chặt chẽ với đơn vị tán sỏi, lên lịch chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) hoặc nội soi tán sỏi ngược dòng bằng ống soi mềm sau 30 ngày cho toàn bộ bệnh nhân còn sót sỏi kích thước từ 5mm trở lên, phấn đấu nâng tỷ lệ sạch sỏi toàn diện lên trên 95%.
  4. Nâng cao năng lực chuyên môn và theo dõi định kỳ: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh cần định kỳ 6 tháng một lần tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật mổ đường vô mạch Brödel cho các bác sĩ ngoại khoa tuyến huyện. Đồng thời, xây dựng hồ sơ theo dõi tái khám định kỳ 3 tháng và 6 tháng một lần qua siêu âm và xét nghiệm nước tiểu nhằm phát hiện sớm nguy cơ tái phát sỏi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp khối lượng kiến thức lâm sàng và giải phẫu ứng dụng phong phú, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Bác sĩ chuyên khoa Ngoại Tiết niệu: Nắm vững các mốc giải phẫu cuống mạch thận, đường ranh giới thiếu máu và kỹ năng xử trí các dạng giải phẫu bể thận trong xoang phức tạp để giảm thiểu chảy máu và biến chứng trong mổ.
  2. Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và cao học Ngoại khoa: Sử dụng luận văn làm tài liệu học tập chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng, tiêu chuẩn phân loại sỏi Rocco F., cách đánh giá chức năng bài tiết qua UIV và sinh lý thiếu máu thận cục bộ.
  3. Lãnh đạo và nhà quản lý y tế tại các bệnh viện tuyến tỉnh: Tham khảo cơ sở thực tiễn để xây dựng quy trình kỹ thuật ngoại khoa, dự trù trang thiết bị y tế và tối ưu hóa chi phí điều trị cho bệnh nhân sỏi phức tạp tại địa phương.
  4. Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Nội Thận học: Hiểu rõ các yêu cầu đánh giá giải phẫu học của phẫu thuật viên, phối hợp hiệu quả trong việc đọc phim tiền phẫu và theo dõi hồi phục chức năng thận sau can thiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Sự khác biệt cơ bản giữa sỏi bán san hô C4 và sỏi san hô toàn phần C5 là gì?
    Sỏi C4 là dạng sỏi nằm ở bể thận và có nhánh lan vào 2 nhóm đài thận (thường là nhóm đài dưới kết hợp đài trên hoặc đài giữa). Sỏi C5 là sỏi san hô toàn phần, đúc khuôn hoàn toàn bể thận và lan tỏa vào cả 3 nhóm đài, chiếm trên 80% thể tích hệ thống đài bể thận, đòi hỏi kỹ thuật mở rộng nhu mô phức tạp hơn.

  2. Vì sao thời gian khống chế động mạch thận ở nhiệt độ thường không được vượt quá 20 đến 30 phút?
    Khi thiếu máu quá 20 phút ở 37°C, tế bào biểu mô ống thận cạn kiệt nguồn ATP, làm tê liệt bơm ion màng tế bào, dẫn đến ứ nước nội bào và phù nề tế bào. Tình trạng thiếu máu kéo dài trên 30 đến 60 phút sẽ gây hoại tử ống thận cấp và suy giảm chức năng thận vĩnh viễn không thể hồi phục.

  3. Dạng bể thận trong xoang B1 và B2 gây ra những thách thức nào cho phẫu thuật viên?
    Bể thận trong xoang bị bao bọc sâu bởi nhu mô và mô mỡ rốn thận, phẫu trường hẹp và khó bộc lộ. Phẫu thuật viên rất dễ làm rách cổ đài, rách thành bể thận hoặc phạm vào các nhánh mạch máu lớn gây chảy máu dữ dội, làm tăng nguy cơ sót sỏi và phải chuyển sang đường rạch nhu mô.

  4. Quy trình xử trí chuẩn đối với các trường hợp sót sỏi phát hiện trên phim KUB sau mổ là gì?
    Nếu sỏi sót có kích thước dưới 5mm, bệnh nhân được theo dõi điều trị nội khoa tống sỏi và tái khám định kỳ sau 3 tháng. Nếu mảnh sỏi sót có kích thước từ 5mm trở lên, bệnh nhân được hẹn can thiệp tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) hoặc nội soi ngược dòng tán sỏi bằng laser sau 1 tháng khi vết mổ đã hồi phục ổn định.

  5. Trong kỷ nguyên tán sỏi công nghệ cao, khi nào phẫu thuật mở lấy sỏi san hô vẫn là lựa chọn tối ưu?
    Mổ mở là lựa chọn hàng đầu khi sỏi san hô kích thước quá lớn kèm nhiều nhánh phức tạp, sỏi trên thận dị dạng giải phẫu, sỏi kèm nhiễm khuẩn ứ mủ nặng, hoặc ở các cơ sở y tế tuyến tỉnh chưa có đủ trang thiết bị nội soi tán sỏi qua da hiện đại, giúp giải quyết triệt để sỏi trong một lần mổ với chi phí hợp lý.

Kết luận

  • Phẫu thuật mổ mở điều trị sỏi san hô thận C4 và C5 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh đạt kết quả gần rất khả quan với tỷ lệ thành công chung đạt trên 85%.
  • Kỹ thuật rạch nhu mô trên đường vô mạch Brödel kết hợp khống chế động mạch thận an toàn giúp kiểm soát lượng máu mất dưới 250ml ở hơn 76% bệnh nhân.
  • Tỷ lệ làm sạch sỏi ngay sau mổ đạt 78,1%, phần lớn sỏi sót là các mảnh vụn nhỏ dưới 5mm được kiểm soát tốt bằng phác đồ theo dõi và tán sỏi bổ trợ.
  • Chức năng bài tiết của thận và nồng độ creatinin huyết thanh được bảo tồn và cải thiện rõ rệt sau mổ ở đại đa số các trường hợp không có suy thận nặng trước đó.
  • Phân loại hình thái bể thận B1 đến B5 đóng vai trò quyết định trong việc tiên lượng độ khó của phẫu thuật và lựa chọn kỹ thuật tiếp cận tối ưu.

Quý đồng nghiệp và bạn đọc quan tâm có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn chẩn đoán và điều trị ngoại khoa tiết niệu tại đơn vị. Hãy tiếp tục cập nhật và hoàn thiện các phác đồ điều trị đa mô thức để mang lại hiệu quả bảo tồn thận tốt nhất cho người bệnh.