Luận văn thạc sĩ về điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Khám phá kết quả điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật nội soi tán sỏi qua da tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong luận văn thạc sĩ.

Trường đại học

Trường Đại học Y - Dược

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn bác sĩ nội trú

2019

98
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu thận

1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh lý sỏi thận

1.3. Điều trị sỏi thận bằng phương pháp nội soi tán sỏi thận qua da

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.5. Quy trình kỹ thuật

2.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.7. Đạo đức nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.2. Kết quả điều trị

3.3. Bàn luận về một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng. Đánh giá kết quả phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về kết quả điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da là một phương pháp hiện đại, mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, phương pháp này đã được áp dụng từ tháng 3/2018 và đã cho thấy những kết quả khả quan. Sỏi thận là một bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng đến nhiều người, đặc biệt là trong độ tuổi lao động. Việc điều trị hiệu quả không chỉ giúp giảm đau đớn mà còn ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng.

1.1. Đặc điểm bệnh lý sỏi thận và phương pháp điều trị

Sỏi thận thường gây ra nhiều triệu chứng khó chịu như đau lưng, tiểu buốt, và có thể dẫn đến nhiễm trùng. Phẫu thuật nội soi tán sỏi qua da là phương pháp ít xâm lấn, giúp loại bỏ sỏi mà không cần mở bụng.

1.2. Lợi ích của phẫu thuật nội soi tán sỏi thận

Phương pháp này giúp giảm thời gian hồi phục, giảm đau sau phẫu thuật và tỷ lệ biến chứng thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sạch sỏi đạt từ 80% đến 94%.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị sỏi thận

Mặc dù phẫu thuật nội soi tán sỏi thận mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức. Tỷ lệ tái phát sỏi thận cao, có thể lên đến 50% trong vòng 5 năm. Ngoài ra, một số bệnh nhân có thể gặp phải biến chứng sau phẫu thuật, như chảy máu hoặc nhiễm trùng.

2.1. Tỷ lệ tái phát sỏi thận sau phẫu thuật

Tái phát sỏi thận là một vấn đề lớn, đặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử sỏi. Việc theo dõi và điều trị kịp thời là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ này.

2.2. Biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật

Một số biến chứng như chảy máu, nhiễm trùng hoặc tổn thương niệu quản có thể xảy ra. Việc lựa chọn bệnh nhân và kỹ thuật phẫu thuật phù hợp là rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro.

III. Phương pháp phẫu thuật nội soi tán sỏi thận hiệu quả

Phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da là phương pháp chính được áp dụng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Kỹ thuật này sử dụng các thiết bị hiện đại để tiếp cận và loại bỏ sỏi mà không cần mở bụng. Điều này giúp giảm thiểu đau đớn và thời gian hồi phục cho bệnh nhân.

3.1. Quy trình phẫu thuật nội soi tán sỏi thận

Quy trình phẫu thuật bao gồm việc tạo đường hầm nhỏ vào thận, sau đó sử dụng thiết bị tán sỏi để loại bỏ sỏi. Kỹ thuật này yêu cầu sự chính xác cao từ bác sĩ phẫu thuật.

3.2. Thiết bị và công nghệ sử dụng trong phẫu thuật

Các thiết bị như laser holmium và bộ nong kích thước nhỏ giúp tăng hiệu quả tán sỏi và giảm tổn thương cho niệu quản. Công nghệ hiện đại đóng vai trò quan trọng trong thành công của phẫu thuật.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đạt tỷ lệ sạch sỏi cao và biến chứng thấp. Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin quý giá cho việc cải thiện chất lượng điều trị sỏi thận.

4.1. Đánh giá hiệu quả điều trị sỏi thận

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sạch sỏi khi ra viện đạt từ 80% đến 94%. Điều này cho thấy phẫu thuật nội soi là phương pháp hiệu quả trong điều trị sỏi thận.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào thực tiễn tại bệnh viện, giúp nâng cao chất lượng điều trị và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị sỏi thận

Phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã chứng minh được hiệu quả và tính an toàn. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật để nâng cao hơn nữa kết quả điều trị.

5.1. Tương lai của phẫu thuật nội soi tán sỏi thận

Với sự phát triển của công nghệ, phẫu thuật nội soi sẽ ngày càng trở nên phổ biến và hiệu quả hơn trong điều trị sỏi thận.

5.2. Nhu cầu nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật

Cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các phương pháp mới, giảm thiểu biến chứng và nâng cao tỷ lệ thành công trong điều trị sỏi thận.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay kết quả điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật nội soi tán sỏi qua da đường hầm nhỏ tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu thận Mỗi cơ thể có hai thận nằm sau phúc mạc trong góc hợp bởi xương sườn XI và cột sống thắt lưng, ngay phía trước cơ thắt lưng, thận phải thấp hơn thận trái. Thận ở người trưởng thành có kích thước 12 x 6 x 3cm, nặng khoảng 90- 180 gram, được giữ tại chỗ bởi lớp mỡ quanh thận, cân Gerota, cuống thận, trương lực các cơ thành bụng và các tạng trong phúc mạc, mức độ di động của thận phụ thuộc nhiều yếu tố nhưng khi hít vào, thở ra thận có thể di động tới 2 - 3cm [2]. Hệ thống đài bể thận Hình 1.1: Giải phẫu đài bể thận [21] LUAN VAN CHAT Số hóa bởiLUONG Trung tâm Họcdownload liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 4 Đường dẫn niệu được bắt đầu từ chỗ các ống góp đổ vào các đài thận nhỏ, rồi từ nhiều đài thận nhỏ đổ vào các đài thận lớn sau đó được tập trung lại ở bể thận, xuống niệu quản trước khi đổ vào bàng quang và ra ngoài [24].

Xoang thận: Xoang thận thông ra ngoài ở rốn thận, thành xoang có nhiều chỗ lồi lõ, chỗ lồi hình nón gọi là nhú thận. Nhú thận cao khoảng 4 - 10 mm. Đầu nhú có nhiều lỗ của ống sinh niệu đổ nước tiểu vào bể thận. Chỗ lõm úp vào các nhú thận gọi là các đài nhỏ.

Các đài nhỏ hợp lại thành 2 đài lớn. Các đài lớn hợp thành bể thận. Bể thận thông với niệu quản [24]. Các đài lớn được tạo thành do sự hội tụ các đài thận nhỏ (từ 2 - 4 đài nhỏ), mỗi thận thường có từ 2 - 3 đài lớn, hầu hết các trường hợp đều có đài lớn trên và đài lớn dưới, đài lớn giữa có thể không có.

Điển hình có 4 nhóm đài nhỏ dẫn lưu 4 phần tương ứng của 2 nửa thận: - Nhóm đài cực trên (I) dẫn lưu 1/4 – 1/3 trên thận, gồm 3 - 5 đài nhỏ. - Nhóm đài giữa trên (II) dẫn lưu 1/6 – 1/5 giữa trên thận, gồm 1 - 2 đài nhỏ đổ vào giữa cuống đài lớn trên hoặc vào giữa bể thận hay lệch lên trên sát nhập với nhóm I - Nhóm đài giữa dưới (III) dẫn lưu nhỏ hơn 1/5 - 1/4 giữa dưới thận, thường gồm 2 đài nhỏ đổ vào đài lớn dưới hay phần giữa dưới bể thận. - Nhóm cực dưới (IV) dẫn lưu khoảng 1/4 dưới thận, thường gồm 3 đài nhỏ. Đôi khi 1 đài nhỏ trên cùng của nhóm có thể tách rời khỏi phần còn lại của nhóm [2].

LUAN VAN CHAT Số hóa bởiLUONG Trung tâm Họcdownload liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.2: Thiết đồ đứng ngang của thận trái [21] 1. Sự phân chia hệ thống đài bể thận. Hệ thống đài bể thận là một ống cơ rỗng phân thành nhiều nhánh có nhiệm vụ dẫn nước tiểu từ nhú (gai) thận tới niệu quản. Trên phim chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV) có thể thấy đáy các đài thận có hình nón quay ra phía ngoài bao bọc các nhú thận, ở tư thế nghiêng có hình trăng khuyết với gai nhọn ở phía tận cùng gọi là túi cùng đài thận (Fornix), ở tư thế thẳng bờ các đài thận có hình đậm hơn đáy đài thận, tư thế chếch có hình giống một cốc rượu có chân, phần dưới đài thận được bảo vệ bởi một bao xơ, phần này nhìn rất rõ (cổ đài), phần LUAN VAN CHAT Số hóa bởiLUONG Trung tâm Họcdownload liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 6 trên giáp với nhú thận.

Các đài nhỏ có cổ đài hẹp, chúng có thể đổ thẳng vào bể thận hoặc tập trung lại tạo thành các đài lớn trước khi đổ vào bể thận [24]. Qua nghiên cứu hệ thống đài bể thận của Trần Văn Hinh (2001): Trục đài dưới ngoài hướng chạy chếch ra sau so với mặt phẳng chính diện (Frontal), còn chạy chếch xuống dưới, dựa vào hướng trục của đài dưới chạy chếch xuống dưới để chia làm 2 loại: - Loại 1: hướng trục đài dưới chạy xiên chếch tạo với mặt phẳng đứng giữa trước sau đi qua mép rốn thận một góc 300, loại này hay gặp hơn và chiếm 82,79%. - Loại 2: trục đài dưới chạy thẳng hoặc gần như thẳng xuống cực dưới góc <300 gọi chung là hướng cực dưới ít gặp hơn chiếm 17,21%. Dựa vào kết quả hướng trục đài dưới, có thể phần nào định hướng cho kỹ thuật chọc thận vào nhóm đài dưới để dẫn lưu thận hay kỹ thuật điều trị nội soi khác, hay tiên lượng kết quả điều trị sỏi thận bằng TSNCT [9], [28].3: Sự phân chia hệ thống đài bể thận [9] LUAN VAN CHAT Số hóa bởiLUONG Trung tâm Họcdownload liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.

Phân chia động mạch thận Thông thường (98%), động mạch thận bắt nguồn từ sườn bên động mạch chủ bụng ngang sụn liên đốt sống L1-L2, thường (67-78%) mỗi thận có một động mạch tới cấp máu [9]. Từ nguyên ủy, động mạch thận dài khoảng 3 cm đi trong cuống thận, sau đó ĐM thận chính sau khi vào rốn thận, chia thành 2 nghành trước và sau bể; ĐM thận phụ là những ĐM đi vào rốn thận chỉ cấp máu cho một vùng thận, ĐM không đi vào rốn thận cấp máu cho một vùng thận là ĐM xiên hay ĐM cực.Tỉ lệ thận có động mạch thận phụ gặp khoảng 6,6% theo một nghiên cứu của Karmacharya [43]. Có khoảng 70-80% các trường hợp, ĐM thận chia làm 2 ngành: ĐM trước và ĐM sau bể khi còn cách rốn thận 1-3 cm, số còn lại chia thành chum: 3 - 5 ngành tận, trong xoang hay sát rốn thận. ĐM thận chia ngoài xoang chiếm tỉ lệ 68-80%, chia trong xoang chiếm 18%, chia tại rốn thận chiếm 14% [9].4: Các phân thùy thận theo mạch máu [21] LUAN VAN CHAT Số hóa bởiLUONG Trung tâm Họcdownload liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.

Xếp loại các dạng và biến đổi giải phẫu của hệ thống đài bể thận - Loại có 4 nhóm đài nhỏ đổ rõ rệt vào các nhóm đài lớn hoặc cả bể thận tùy thuộc vào bể thận hình chữ Y hay bể thận to hoặc đài dưới ngắn. - Loại có 5 nhóm đài nhỏ không điển hình do có thêm 1 nhóm trung gian. - Loại có 6 nhóm đài do phân đôi nhóm đài I và IV. - Loại có 3 nhóm đài nhỏ: do thiếu hụt hoàn toàn nhóm II và nó được bù trừ bởi sự phát triển trội của nhóm I và nhóm cực dưới.

Giải phẫu hệ thống đài bể thận có liên quan chắt chẽ với các đường mở thận trong phẫu thuật mở, nhưng hiện nay do kỹ thuật tán sỏi ngoài cơ thể hoặc tán sỏi qua da phát triển nên mở bể thận lấy sỏi rất hạn chế [5], [8], tuy nhiên phẫu thuật viên cần nắm chắc giải phẫu để tiến hành chọc dò đài thận hoặc chuyển mổ mở khi cần thiết [4]. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh lý sỏi thận 1. Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng lâm sàng của sỏi thận rất đa dạng, có khi diễn biến âm thầm nhưng phần lớn có biển hiện lâm sàng rõ rệt. Các triệu chứng thường gặp nhất của sỏi thận là: Đau vùng hố thắt lưng nhiều mức độ: từ âm ỉ đến dữ dội, trường hợp sỏi rơi vào niệu quản có biểu hiện cơn đau quặn thận điển hình, đau dữ dội vùng thắt lưng rồi theo niệu quản lan xuống vùng bẹn và sinh dục.

Theo Đỗ Thị Liệu (2003) tại Bệnh viện Bạch Mai thì có 15/150 trường hợp được phát hiện tình cờ có sỏi chiếm 10% bệnh nhân. Triệu chứng thường gặp nhất là đau vùng hông lưng chiếm 54% bệnh nhân [18]. Võ Phước Khương (2018) khi nghiên cứu 93 trường hợp sỏi thận nhận xét rằng triệu chứng đau hông lưng xuất hiện ở 87,1% [17]. Đau vùng hông lưng thường là biểu hiện của thận ứ nước ứ mủ, sỏi đài bể thận hoặc sỏi niệu quản gây tắc nghẽn niệu quản.

Đau hông lưng kèm sốt, bạch LUAN VAN CHAT Số hóa bởiLUONG Trung tâm Họcdownload liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 9 cầu niệu nhiều, có vi khuẩn niệu và protein niệu là biểu hiện của viêm thận bể thận cấp. Các rối loạn về tiểu tiện như đái máu, đái buốt, đái dắt. Theo Đỗ Thị Liệu (2003) đái buốt, đái rắt cũng gặp một tỷ lệ cao ở bệnh nhân (31,7%), Võ Phước Khương (2018) gặp 14% bệnh nhân có tiểu buốt [16]. Sốt, hội chứng nhiễm trùng khi có nhiễm khuẩn đi kèm.

Theo Trần Đức Hoè sốt gặp ở 12,3% tổng số bệnh nhân, Đỗ Thị Liệu gặp 32,7% bệnh nhân sỏi tiết niệu có sốt. Có thể gặp chướng bụng, nôn, buồn nôn. Theo Nguyễn Trương Thiện (2016) tại Bệnh viên Quân y 7A triệu chứng cũng khá đa dạng: trong đó chủ yếu là đau hông lưng mạn tính chiếm 177/216 BN (95,68%). Cơn đau quặn thận 97/216 (44,91%).

Có 5 BN có đái đục và 3 BN đái máu trước vào viện chiếm tỷ lệ 2,7% và 1,62% [26]. Về tiền sử điều trị sỏi thận: Theo Đỗ Thị Liệu (2003) nghiên cứu có 72/150 bệnh nhân có tiền sử đã được phát hiện sỏi thận tiết niệu. 37 bệnh nhân có tiền sử đã được phẫu thuật lấy sỏi trong đó 5 bệnh nhân được phẫu thuật 2 lần, 1 bệnh nhân được phẫu thuật 3 lần. Ngoài ra bệnh nhân có thể có bệnh lý phối hợp: Theo Nguyễn Trương Thiện (2016) nghiên cứu 53/216 BN (24,54%) có bệnh kết hợp hoặc sỏi tiết niệu kết hợp ở nhiều vị trí.

Trong đó chiếm phần lớn là tăng huyết áp và đái tháo đường. Theo Đỗ Thị Liệu (2003) tăng huyết áp gặp ở 34/146 trường hợp chiếm 23,4%, trong đó chủ yếu là tăng huyết áp độ II và độ III (18,5%) [26]. Triệu chứng cận lâm sàng Xét nghiệm máu đánh giá chức năng thận Theo Nguyễn Trương Thiện (2016) tại Bệnh viên Quân y 7A chỉ số urê và creatinin máu trung bình là 6,13 ± 2,60 mmol/l và 94,79 ± 37,47 µmol/l. Có 23/216 BN (10,65%) tăng Ure huyết.

55/216 BN (25,46%) tăng Creatinin huyết thanh. Phân độ suy thận theo chỉ số xét nghiệm cho thấy chủ yếu là suy thận độ LUAN VAN CHAT Số hóa bởiLUONG Trung tâm Họcdownload liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 10 I đến độ IIIa trong đó chủ yếu là suy thận độ I và độ II chiếm tỷ lệ 11,11% và 9,26%. Theo Đỗ Thị Liệu (2003) suy thận gặp ở 62,6% bệnh nhân. Trong số những bệnh nhân có suy thận lúc nhập viện, tỷ lệ bệnh nhân suy thận độ II chiếm cao nhất (21,6%).

Tuy nhiên cũng có 13,7% bệnh nhân suy thận độ IIIb và 6,5% bệnh nhân suy thận độ IV [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết quả điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi thận. Nghiên cứu này không chỉ trình bày kết quả điều trị mà còn nhấn mạnh những lợi ích của phẫu thuật nội soi, như giảm thiểu đau đớn, thời gian hồi phục nhanh chóng và ít biến chứng hơn so với các phương pháp phẫu thuật truyền thống.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Kết quả điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật tán sỏi qua da đường hầm nhỏ tại bệnh viện A Thái Nguyên, nơi cung cấp thông tin về một phương pháp điều trị khác cho sỏi thận. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu về sỏi thận: Phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chẩn đoán và điều trị sỏi thận hiện nay. Cuối cùng, tài liệu Kết quả phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối cũng có thể cung cấp thêm thông tin về ứng dụng của phẫu thuật nội soi trong các lĩnh vực khác.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học.