ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hoá gây tăng đường huyết mạn tính do thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối của tuyến tụy. Nếu không được kiểm soát tốt, sau một thời gian tiến triển có thể gây nhiều biến chứng [46]. Bệnh đã và đang trở thành vấn đề mang tính chất xã hội bởi sự bùng phát nhanh chóng, mức độ nguy hại và thậm ch được coi là dịch [43], [59], [65]. Tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường tăng nhanh chóng trên toàn thế giới trong những năm gần đây.
Theo thống kê, tỉ lệ bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới là 2,8 với 171 triệu người mắc năm 2000 [62], đã tăng lên 8,3 với 366 triệu người mắc năm 2011 và dự đoán tỉ lệ bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới s tăng lên 9,9 với hơn 552 triệu người mắc vào năm 2030 [45], [60]. Trong số các bệnh nhân bị đái tháo đường thì 90 bệnh nhân bị đái tháo đường typ 2 [64]. Nghiên cứu cho thấy số lượng bệnh nhân đái tháo đường typ 2 đã và đang tăng lên một cách nhanh chóng trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [63]. Theo Hiệp hội đái tháo đường quốc tế thì dự kiến đến năm 2030 s có khoảng 439 triệu bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trên toàn thế giới [44].
Tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường typ 2 rất khác nhau ở các nước trên thế giới phụ thuộc vào các yếu tố môi trường, văn hóa và thói quen sinh hoạt [68]. Một nghiên cứu ở khu vực châu cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tăng gấp 3 - 5 lần trong vòng 30 năm qua ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và In đô nê xia [65]. Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh đái tháo đường rất nhanh. Theo báo cáo của Bộ Y tế thì tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang tăng mạnh từ 2,7 (năm 2001) lên tới 5,7 (năm 2008) [8], [11].
Đối với bệnh đái tháo đường thì ảnh hưởng hậu quả của bệnh lại là do ch nh các biến chứng của bệnh gây ra. Nghiên cứu cho thấy, nếu không được quản 2 lý, điều trị và phòng bệnh kịp thời thì bệnh nhân đái tháo đường rất dễ bị các biến chứng như: 44 người bệnh đái tháo đường bị biến chứng thần kinh, 71 biến chứng về thận, 8 bị biến chứng mắt [4], [24]. Đối với bệnh nhân đái tháo đường, mục tiêu đặt ra là thực hiện tốt việc quản lý và điều trị bệnh nh m làm giảm hoặc chậm các biến chứng, di chứng của bệnh dẫn đến nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh, làm giảm chi ph của xã hội [12]. Đó là lý do mà Đảng và Nhà nước đã thực hiện xây dựng chương trình quản lý, phòng chống bệnh đái tháo đường tại cộng đồng [10].
Thành phố Bắc Ninh là một thành phố công nghiệp; trong những năm gần đây, bên cạnh sự phát triển về kinh tế, đời sống nhân dân là sự thay đổi thói quen sinh hoạt và làm cho tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường ngày một gia tăng. Thực hiện chủ trương của Bộ Y tế, Trung tâm y tế thành phố Bắc Ninh đã và đang triển khai chương trình khám, quản lý và điều trị cho các bệnh nhân đái tháo đường tại cộng đồng. Tại Khoa khám bệnh Trung tâm y tế thành phố Bắc Ninh đang quản lý, điều trị trên 1000 bệnh nhân đái tháo đường. Tuy nhiên, bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại cộng đồng thường bị ảnh hưởng bởi một số thói quen sống, sinh hoạt, ăn uống bất lợi cho việc kiểm soát đường huyết.
Câu hỏi đặt ra là kết quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường ngoại trú hiện nay ra sao và yếu tố nào ảnh hưởng tới kết quả này? Đó ch nh là lý do chúng tôi tiến hành đề tài: “Kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Trung tâm y tế thành phố Bắc Ninh” nh m mục tiêu: 1 Đánh giá ết qu đi u tr ngo i tr bệnh nhân đái tháo đường typ 2 t i Trung tâm y tế thành phố Bắc Ninh. 2 Phân t ch một số yếu tố nh hưởng tới kết qu đi u tr ngo i trú bệnh nhân đái tháo đường typ 2 t i Trung tâm y tế thành phố Bắc Ninh. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh đái tháo đƣờng 1 1 1 Dịch t h c ệnh đái tháo đường Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh đã và đang b ng phát nhanh chóng trên toàn thế giới trong những năm gần đây.
Bệnh đã trở thành một trong những vấn đề y tế hàng đầu cho tất cả các quốc gia. Theo thống kê, tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ trên toàn thế giới là 2,8 với 171 triệu người mắc năm 2000 [62], đã tăng lên 8,3 với 366 triệu người mắc năm 2011 và dự đoán tỉ lệ bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới s tăng lên 9,9 với hơn 552 triệu người mắc vào năm 2030 [45], [60]. Trong số các bệnh nhân bị ĐTĐ thì 90 bệnh nhân bị ĐTĐ typ 2 [64]. ĐTĐ typ 2 đang gia tăng một cách nhanh chóng trên toàn thế giới.
Số lượng bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được dự đoán là s tăng gấp đôi trong thế kỷ tới do sự già hóa dân số, và đặc biệt 80 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 sống ở các nước đang phát triển [52], nơi có phần lớn bệnh nhân ở độ tuổi từ 45 - 64 tuổi [63]. Theo nghiên cứu thì số lượng bệnh nhân ĐTĐ typ 2 s tăng lên 439 triệu trường hợp vào năm 2030 trên toàn thế giới [44] và tỉ lệ này s tăng ở nhóm tr em và thanh thiếu niên [67]. Tuy nhiên, tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được phát hiện chỉ đại diện cho những trường hợp đến bệnh viện và được chẩn đoán mà thôi, trên thực tế có rất nhiều bệnh nhân ĐTĐ typ 2 vẫn chưa được chẩn đoán phát hiện bệnh và điều trị [67]. Bệnh ĐTĐ typ 2 được gây ra bởi gen, yếu tố môi trường và hành vi lối sống [42].
Tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ typ 2 rất khác nhau từ v ng này đến v ng khác [68], tỉ lệ này thậm ch khác nhau ngay trong c ng 1 v ng hoặc 1 nhóm dân tộc [65]. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) (2011) thì có khoảng 25,8 triệu bệnh nhân ĐTĐ trên 4 toàn nước Mỹ với khoảng 90 - 95,0 bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ typ 2; và có khoảng 7 triệu bệnh nhân ĐTĐ chưa được chẩn đoán [40]. Một nghiên cứu khác ở Thụy Sỹ cho tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ typ 2 dao động từ 5,7 - 7,0 ; và tỉ lệ ĐTĐ typ 2 ở nam cao hơn ở nữ, tỉ lệ này cũng tăng dần theo tuổi [48]. Hiện nay có rất nhiều nước châu đang phải đối mặt với nhu cầu chăm sóc y tế và những gánh nặng xã hội do ĐTĐ gây ra, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ.
Tỉ lệ bệnh ĐTĐ typ 2 ở các nước châu , đặc biệt là v ng châu - Thái Bình Dương, hiện đang chiếm tỉ lệ cao và dự đoán là còn tăng nhanh hơn các v ng khác trên toàn thế giới. Một nghiên cứu ở khu vực châu cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tăng gấp 3 - 5 lần trong vòng 30 năm qua ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và In đô nê xia [65]. Sự tăng nhanh của tỉ lệ bệnh ĐTĐ typ 2 tại châu là hậu quả của việc tăng đô thị hóa, hiện đại hóa và chế độ sống t vận động trong quần thể cộng đồng dân cư. Tỉ lệ này tăng cũng là kết quả của việc tồn tại gen có xu hướng mạnh m trong việc gây ra bệnh ĐTĐ typ 2 ở quần thể người châu [55].
Trong nghiên cứu tổng quan của Zimmet và (cs) cho thấy v ng Đông Nam châu là một trong những v ng có tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cao nhất trên toàn thế giới [67]. Tỉ số bệnh nhân ĐTĐ giữa v ng thành thị so với nông thôn là 1,5 1 ở thời điểm hiện tại và dự đoán tỉ số này s tăng lên nhiều hơn 3 1 vào năm 2025 ở các nước đang phát triển. Một yếu tố nguy cơ khác làm tăng ĐTĐ typ 2 ở các nước đang phát triển ch nh là yếu tố nguy cơ về kinh tế xã hội, đặc biệt là ở v ng nghèo đói [67]. Ở Việt Nam, ĐTĐ đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng theo sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như tốc độ đô thị hóa.
Năm 1990, nghiên cứu dịch tễ học bệnh ĐTĐ cho kết quả tỷ lệ ĐTĐ ở Hà Nội là 1,2%, thành phố Hồ Chí Minh là 2,52% [4]. theo Nguyễn Huy Cường và cộng sự (cs) điều tra trên 3508 người trên 16 tuổi ở Hà Nội, tỷ lệ ĐTĐ 5 là 2,45% [15]. Năm 2002 điều tra trên phạm vi toàn quốc của viện nội tiết, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi 30 – 64 là 2,7%, ở các thành phố là 4,4 , v ng đồng b ng ven biển là 2,2 và miền núi là 2,1 [4]. Một nghiên cứu được tiến hành trên 2394 đối tượng từ 30 - 64 tuổi đang sinh sống tại 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh thấy r ng tỷ lệ mắc ĐTĐ là 4,1.
Đa số bệnh nhân ĐTĐ không được chẩn đoán và điều trị [3], [4]. Tỉ lệ bệnh ĐTĐ đã tăng lên nhanh chóng lên 5,7 năm 2008 [8], [11]. ĐTĐ typ 2 gây ra một gánh nặng y tế đối với không chỉ cá nhân người bệnh mà còn đối với cả xã hội ở tất cả các quốc gia. Chi ph y tế toàn cầu dành cho ĐTĐ là 376 tỉ đô la năm 2010 và dự kiến con số này s tăng lên 490 tỉ đô la vào năm 2030 [66].
Ở châu u, chi ph y tế dành cho ĐTĐ typ 2 là 29 tỉ Eu rô với chi ph trung bình là 2834 Eu rô 1 bệnh nhân năm và thời gian n m viện ước t nh trung bình cho m i bệnh nhân là 23 ngày [47]. ĐTĐ typ 2 s làm giảm chất lượng sống và dẫn đến nhiều biến chứng cũng như giảm tuổi thọ. Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân ĐTĐ typ 2 ở độ tuổi trung niên (40 - 49 tuổi) s bị giảm mất 10 năm tuổi thọ khi mắc bệnh này [53]. Tại Việt Nam ước tính hiện nay chi phí cho bệnh ĐTĐ là 606.251 đôla, dự kiến đến năm 2025 tăng lên 1.