CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm kết hôn Gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng của mối quan hệ phát sinh giữa con người với con người và hôn nhân chính là nền tảng để tạo nên gia đình. Kết hôn chính là sự kiện pháp lý quan trọng trong việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa một nam và một nữ.
Theo cách hiểu thông thường, thì kết hôn là “ Việc nam nữ lấy nhau làm vợ chồng”. Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Đại học luật Hà Nội thì " kết hôn là sự kiện pháp lý giữa nam và nữ trên nguyên tắc bình đẳng tự nguyện theo điều kiện và trình tự nhất định nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc hòa thuận". Theo khoản 5, Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “ kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Về mặt pháp lý thì kết hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản và quan trọng của con người được nhà nước bảo vệ trên cơ sở quy định của pháp luật.
Để bảo vệ quyền kết hôn thì pháp luật của các quốc gia trong đó có Việt Nam đều quy định đầy đủ các điểu kiện kết hôn cũng như trình tự và thủ tục đăng ký kết hôn. Vấn đề nam, nữ sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn thì dưới góc độ pháp lý thì họ không được coi là vợ chồng. Nhằm tiến tới xác lập một quan hệ hôn nhân bền vững, hạnh phúc, tiến bộ thì pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nói riêng và pháp luật hôn nhân và gia đình các quốc gia khác đều quy định nam, nữ muốn kết hôn với nhau thì phải đáp ứng hai yêu tố cơ bản sau: Phải là sự thể hiện ý chí của hai bên nam nữ là mong muốn được kết hôn với nhau Đây chính là yếu tố quan trọng đầu tiên khi các bên muốn xác lập quan hệ hôn nhân với nhau. Hai bên nam nữ cùng thể hiện ý chí của mình là mong muốn được kết hôn với nhau để cùng xây dựng một gia đình hạnh phúc, ấm no, bền vững và tiến bộ.
Ý chí mong muốn kết hôn với nhau phải tự nguyện, thống nhất. Đây cũng chính là điều kiện đủ để đảm bảo cuộc hôn nhân đó có giá trị pháp lý Việc kết hôn được nhà nước thừa nhận Hôn nhân được nhà nước thừa nhận khi việc kết hôn đó tuân thủ các quy định pháp luật về điều kiện kết hôn và trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn. 6 Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ, chồng. Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác lập thời điểm làm phát sinh quan hệ vợ chồng, là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên theo quy định pháp luật.
Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài Trên cơ sở vận dụng quy định tại điều 758 Bộ Luật Dân Sự năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tại Khoản 25, Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa ra khái niệm quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Theo đó thì quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Quan hệ kết hôn là một bộ phận của quan hệ hôn nhân do đó mà để xác định yếu tố nước ngoài của quan hệ kết hôn ta dựa vào các dấu hiệu để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân. Như vậy, có thể xác định kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ, chồng thuộc những trường hợp sau: - Trường hợp thứ nhất, kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài: trong trường hợp này thì một bên nam hoặc nữ là người nước ngoài. Dấu hiệu để xác định người nước ngoài chính là quốc tịch.
Theo đó thì người nước ngoài ở đây được hiểu là " Người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm người nước ngoài và người dân không quốc tịch". Người dân nước ngoài mang quốc tịch nước khác không phải Việt Nam và người dân không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài. Như vậy, quốc tịch chính là một trong những dấu hiệu để xác định đó có phải là kết hôn có yếu tố nước ngoài hay không. Cụ thể như sau: Một là, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ở Việt Nam.
Việc kết hôn trong trường hợp này có thể là một bên nam là công dân Việt Nam kết hôn với một bên nữ là người nước ngoài hoặc một bên nữ là công dân Việt Nam kết hôn với một bên nam là công dân nước ngoài nhưng việc kết hôn đó phải được tiến hành tại Việt Nam. Hai là, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ở nước ngoài. Đây là trường hợp mà việc kết hôn được tiến hành ở nước ngoài. Nước ngoài ở đây có thể hiểu là nước mà người nước ngoài là công dân hoặc cư trú (người nước ngoài là người không quốc tịch).
7 Ba là, công dân Việt Nam ở trong nước kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Trong đó, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Như vậy, trường hợp này có thể là công dân Việt Nam ở trong nước kết hôn với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc công dân Việt Nam ở trong nước kết hôn với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài - Trường hợp thứ hai, kết hôn giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam.
Đối với trường hợp nêu trên, gồm có các trường hợp kết hôn sau đây: • Giữa hai người nước ngoài thường trú tại Việt Nam. • Giữa hai người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam. • Giữa người nước ngoài thường trú với người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam. Đây là trường hợp người thường trú là người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không có quốc tịch đang cư trú, làm ăn, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam tiến hành đăng ký kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
Trường hợp này cũng được xác định là kết hôn có yếu tố nước ngoài. - Trường hợp thứ ba, hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài: Trường hợp này thì việc xác định yếu tố nước ngoài dựa vào dấu hiệu là sự kiện pháp lý (sự kiện kết hôn) làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai công dân Việt Nam với nhau được xác lập ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài. - Trường hợp thứ tư, hai bên nam, nữ đều là công dân Việt Nam nhưng ít nhất một bên đang định cư ở nước ngoài vào thời điểm đăng ký kết hôn: Trường hợp này xác định yêu tố nước ngoài của việc kết hôn dựa vào nơi cư trú của hai bên tại thời điểm kết hôn. Bên cạnh đó thì việc hiểu thế nào là “ định cư ở nước ngoài” cũng là vấn đề đang tranh cãi.
Theo Luật quốc tịch 2008 thì “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” 8 Tóm lại, kết hôn có yếu tố nước ngoài được hiểu là việc xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; Giữa hai công dân Việt Nam với nhau kết hôn ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài; Giữa công dân Việt Nam với nhau mà tại thời điểm đăng ký kết hôn có ít nhất một bên đang định cư ở nước ngoài. Sự cần thiết của việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mang một ý nghĩa quan trọng: Một là, kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng - là nền tảng cơ bản quan trọng để tạo dựng gia đình. Vì lẽ đó, ở bất cứ xã hội nào vấn đề kết hôn cũng được coi trọng. Khi nhà nước xuất hiện, các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật, vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài được pháp luật điều chỉnh và trở thành những quy tắc xử sự chung, buộc mọi người phải tuân thủ.
Nhờ đó, quyền và nghĩa vụ của người kết hôn có yếu tố nước ngoài được pháp luật bảo vệ, trật tự gia đình được giữ gìn, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng xã hội phồn vinh. Chính vì lẽ đó pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến cho đến nay đều chú trọng ghi nhận việc điều chỉnh về kết hôn có yếu tố nước ngoài bằng pháp luật. Hai là, pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài có mối liên hệ sâu sắc với phong tục tập quán và đạo đức. Các quy định về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài trong pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay được xây dựng trên sự kết hợp hài hòa giữa cơ sở khoa học và phong tục tập quán, truyền thồng của người Việt Nam.