Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành" do sinh viên Đinh Thị Thu Trang thực hiện thuộc ngành Luật Quốc tế (mã số: 52380108) tại Viện Đại học Mở Hà Nội dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thái Mai vào năm 2015.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và giao lưu dân sự xuyên quốc gia ngày càng mở rộng, quan hệ hôn nhân vượt khỏi phạm vi lãnh thổ đã trở thành một hiện tượng phổ biến. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài mang tính chất tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác văn hóa - xã hội nhưng cũng phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như kết hôn giả tạo nhằm mục đích xuất cảnh, trục lợi kinh tế, môi giới hôn nhân bất hợp pháp và nguy cơ xâm phạm danh dự, nhân phẩm của phụ nữ. Nhằm thiết lập hành lang pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ, tiêu biểu là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá tổng thể hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
- Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật và chỉ ra những hạn chế, bất cập nảy sinh trong thực tiễn đăng ký, quản lý kết hôn có yếu tố nước ngoài.
- Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn thực thi các quy định này.
- Phạm vi không gian và nội dung: Tập trung vào các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc gia của Việt Nam (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn liên quan) và số liệu thực tế tại một số tỉnh, thành phố. Đề tài không đi sâu nghiên cứu chi tiết các quy định về kết hôn trong các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia khác.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình phát triển của pháp luật từ trước năm 1945 đến thời điểm năm 2015, tập trung trọng tâm vào giai đoạn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:
- Khái niệm kết hôn: Dẫn chiếu định nghĩa tại Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, xác định kết hôn là sự kiện pháp lý giữa nam và nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng.
- Căn cứ xác định yếu tố nước ngoài: Dựa trên Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 758 Bộ luật Dân sự năm 2005 để phân loại 4 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài:
- Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (ở Việt Nam, ở nước ngoài, hoặc giữa công dân Việt Nam trong nước với người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo Luật Quốc tịch năm 2008).
- Giữa những người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam.
- Giữa hai công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài.
- Giữa hai bên nam, nữ đều là công dân Việt Nam nhưng có ít nhất một bên định cư ở nước ngoài tại thời điểm đăng ký kết hôn.
- Hệ thống nguồn luật: Pháp luật quốc gia (Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, Thông tư số 22/2013/TT-BTP, Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg); Điều ước quốc tế (các Hiệp định tương trợ tư pháp với Cu Ba năm 1984, Hungary năm 1985, Bulgaria năm 1986, Ba Lan năm 1993, Liên bang Nga năm 1998, Lào năm 1998); Tập quán quốc tế (đáp ứng đủ 3 tiêu chuẩn: hình thành lâu đời, nội dung rõ ràng, được các quốc gia thừa nhận có tính ràng buộc).
- Hệ thuộc luật: Nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae) và nguyên tắc luật nơi cư trú.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích lý luận khoa học pháp lý nhằm làm sáng tỏ bản chất của chế định kết hôn có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế.
- Phương pháp tổng hợp tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ.
- Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với quy định về độ tuổi kết hôn của một số quốc gia như Đức, Bồ Đào Nha, Indonesia, Singapore).
- Phương pháp phân tích số liệu thực tiễn và các vụ việc phát sinh trong công tác đăng ký hộ tịch tại các địa phương.
Nguồn dữ liệu:
Văn bản pháp luật thực định của Việt Nam; các nghiên cứu tiền bối (luận án tiến sĩ của Nông Quốc Bình; giáo trình và chuyên khảo của Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường - NXB Tư pháp, 2006); thông tin từ Cổng thông tin điện tử Lãnh sự Việt Nam và Cổng thông tin Dự thảo Online.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kết hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng khái niệm và xác định cơ sở khoa học của việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài:
- Bản chất pháp lý: Khẳng định kết hôn là quyền nhân thân cơ bản. Để có giá trị pháp lý, cuộc hôn nhân phải bảo đảm hai yếu tố: ý chí tự nguyện thống nhất của hai bên nam nữ và sự thừa nhận của Nhà nước thông qua thủ tục đăng ký hợp thức.
- Sự cần thiết điều chỉnh: Phân tích 4 lý do căn bản: (1) Bảo vệ trật tự gia đình và xã hội; (2) Gắn kết hài hòa giữa chuẩn mực pháp lý với đạo đức và thuần phong mỹ tục dân tộc; (3) Xác lập chế định tư pháp quốc tế bảo vệ quyền con người, phòng ngừa xâm phạm thân thể và danh dự phụ nữ; (4) Bảo đảm tính kế thừa, phát triển hoàn thiện của hệ thống pháp luật.
- Cấu trúc nguồn điều chỉnh: Trình bày ba nhóm nguồn gồm pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế song phương/đa phương và tập quán quốc tế.
Chương 2: Quy định của pháp luật hôn nhân & gia đình Việt Nam hiện hành về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử lập pháp và phân tích chi tiết quy định pháp luật thực định:
- Lịch sử phát triển pháp luật:
- Trước 1945: Áp dụng Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936, Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883 (chỉ điều chỉnh gián tiếp qua quy định về quốc tịch).
- 1945 - 1954: Giai đoạn sơ khai, chưa có quy định chuyên biệt.
- 1954 - 1975: Miền Bắc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 (chưa quy định cụ thể yếu tố nước ngoài); Miền Nam áp dụng Pháp quy giản yếu 1883 và Bộ Dân luật 1972 (Điều 125 về hôn thú xác lập ở nước ngoài).
- 1975 - nay: Từng bước hoàn thiện qua Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1986 (Điều 52), Pháp lệnh năm 1993, Nghị định số 184/1994/NĐ-CP, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.
- Các nguyên tắc điều chỉnh: Tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài (Khoản 1 Điều 121 Luật năm 2014); Bảo hộ quyền lợi công dân Việt Nam ở nước ngoài và không phân biệt đối xử với người nước ngoài (Khoản 2, 3 Điều 121); Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài (Điều 122); Nguyên tắc áp dụng luật quốc tịch (lex patriae) và luật nơi cư trú (Điều 126).
- Quy định cụ thể về điều kiện, thẩm quyền và trình tự:
- Điều kiện kết hôn: Tuân thủ Điều 8 (Nam từ đủ 20 tuổi, Nữ từ đủ 18 tuổi; tự nguyện) và Điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều 5 Luật năm 2014 (cấm kết hôn giả tạo, lừa dối; cấm người đang có vợ/chồng; cấm người cùng dòng máu trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời; cấm giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng - con dâu, mẹ vợ - con rể, bố dượng - con riêng của vợ, mẹ kế - con riêng của chồng). Người nước ngoài đồng thời phải tuân thủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước họ.
| Quốc gia |
Độ tuổi kết hôn theo luật định |
Điều kiện bổ sung / Ngoại lệ |
| Việt Nam |
Nam đủ 20 tuổi, Nữ đủ 18 tuổi |
Tuân thủ năng lực hành vi và các điều cấm kết hôn |
| Đức |
Nam và Nữ đủ 18 tuổi |
Từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi cần Tòa gia đình cho phép nếu bên kia đã thành niên (Điều 1303 BGB) |
| Bồ Đào Nha |
Nam và Nữ đủ 16 tuổi |
Quy định thống nhất chung cho cả hai giới |
| Indonesia |
Nam đủ 19 tuổi, Nữ đủ 16 tuổi |
Có sự phân biệt độ tuổi theo giới tính |
| Singapore |
Nam và Nữ đủ 21 tuổi |
Áp dụng độ tuổi thành niên kết hôn tương đối cao |
- Công nhận kết hôn ở nước ngoài: Căn cứ Điều 36 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, công nhận khi phù hợp pháp luật nước ngoài và tuân thủ điều kiện theo Luật Việt Nam (cho phép công nhận nếu hậu quả vi phạm đã được khắc phục hoặc để bảo vệ phụ nữ, trẻ em).
- Thẩm quyền và thủ tục: UBND cấp tỉnh (nơi thường trú của công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài thường trú); UBND cấp xã khu vực biên giới (công dân Việt Nam với công dân nước láng giềng cư trú vùng biên giới); Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài.
| Nội dung thủ tục |
Đăng ký tại cơ quan trong nước (Sở Tư pháp / UBND tỉnh) |
Đăng ký tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài |
| Thời hạn thẩm tra & phỏng vấn |
Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và lệ phí |
Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và lệ phí |
| Tổng thời gian giải quyết chuẩn |
Không quá 25 ngày |
Không quá 20 ngày |
| Thời gian gia hạn xác minh |
Kéo dài thêm không quá 10 ngày (Công an xác minh) |
Kéo dài thêm không quá 35 ngày (Cơ quan trong nước xác minh) |
| Tổ chức lễ đăng ký kết hôn |
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký |
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký |
| Thời hạn gia hạn tạm hoãn lễ trao giấy |
Tối đa không quá 90 ngày |
Tối đa không quá 90 ngày |
- Quản lý nhà nước và chế tài xử lý: Thực hiện theo Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg; Hủy kết hôn trái pháp luật thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện (khu vực biên giới) và TAND cấp tỉnh (Khoản 3 Điều 123); Xử phạt vi phạm hành chính về môi giới kết hôn trái thuần phong mỹ tục hoặc trái pháp luật theo Điểm k Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP và Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.
Chương 3: Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Chương 3 tập trung phân tích các lỗ hổng lập pháp và thực tiễn thực thi, từ đó đưa ra các đề xuất hoàn thiện:
- Thực trạng và bất cập pháp lý:
- Vấn đề sức khỏe và nhân thân: Tình trạng người nước ngoài già yếu, tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự tạm thời được điều trị thuốc để đối phó khi khám sức khỏe; lợi dụng hôn nhân vì mục đích kinh tế.
- Rào cản ngôn ngữ và văn hóa: Pháp luật quy định phỏng vấn nhưng không quy định chế tài từ chối đăng ký nếu hai bên không thể giao tiếp bằng ngôn ngữ chung hoặc không hiểu hoàn cảnh của nhau.
- Bất cập trong thủ tục phỏng vấn: Chưa có bộ câu hỏi và quy trình chuẩn hóa dẫn đến việc áp dụng tùy tiện; xuất hiện tình trạng chuyển hộ khẩu sang tỉnh khác để né tránh phỏng vấn khắt khe, hoặc gửi hồ sơ kết hôn vắng mặt sang Hàn Quốc rồi quay về Việt Nam xin công nhận.
- Xung đột quy phạm chọn luật (Điều 126 Luật năm 2014): Quy định người nước ngoài kết hôn tại Việt Nam phải tuân thủ đồng thời pháp luật hai nước dễ dẫn đến bế tắc khi điều kiện hai bên xung đột; người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam chỉ cần tuân thủ luật Việt Nam có thể dẫn đến hôn nhân vô hiệu theo pháp luật nước họ.
- Hạn chế của Thông tư số 22/2013/TT-BTP: Quy định không rõ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người Việt kiều có hai quốc tịch; yêu cầu giấy xác nhận tư vấn đối với các trường hợp chênh lệch trên 20 tuổi hoặc kết hôn lần ba nhưng toàn khu vực phía Nam chỉ có 12 Trung tâm tư vấn trực thuộc Hội Phụ nữ hoạt động theo giấy phép cũ; thiếu cơ chế xác minh thông tin người nước ngoài khi cấp giấy tình trạng hôn nhân.
- Chế tài xử phạt: Mức phạt vi phạm hành chính còn nhẹ, chưa có tội danh cụ thể về môi giới hôn nhân trái phép trong Bộ luật Hình sự.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Kết quả chính rút ra từ văn bản:
- Khóa luận hệ thống hóa toàn bộ các mốc phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài qua 4 giai đoạn lịch sử (trước 1945, 1945-1954, 1954-1975, 1975 đến nay).
- Khái quát và phân tích hệ thống thời hạn, thẩm quyền đăng ký kết hôn chặt chẽ theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (thời hạn giải quyết 25 ngày trong nước, 20 ngày tại cơ quan đại diện, gia hạn hoãn lễ kết hôn tối đa 90 ngày).
- Làm rõ thực trạng thiếu hụt thiết chế hỗ trợ khi toàn miền Nam chỉ có 12 Trung tâm Tư vấn Hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ đang hoạt động theo quy chế cũ của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, chưa đáp ứng đủ yêu cầu thực tế theo tinh thần Thông tư số 22/2013/TT-BTP.
Hệ thống giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện quy định về điều kiện kết hôn: Quy định giới hạn mức chênh lệch độ tuổi hợp lý; thống nhất quy định độ tuổi kết hôn giữa Luật Hôn nhân và Gia đình với Bộ luật Tố tụng Dân sự; bổ sung yêu cầu giấy tờ kiểm tra sức khỏe chuyên sâu; quy định tiêu chuẩn ngoại ngữ và hiểu biết văn hóa tối thiểu.
- Hướng dẫn cụ thể tiêu chí "kết hôn có nghi vấn": Bổ sung quy định yêu cầu giấy xác nhận truy lục hồ sơ kết hôn tại nước sở tại của người nước ngoài để ngăn chặn kết hôn lừa dối.
- Cải cách thẩm quyền ký Giấy chứng nhận kết hôn: Cho phép Chủ tịch UBND cấp tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp ký Giấy chứng nhận kết hôn nhằm đơn giản hóa quy trình hành chính.
- Chuẩn hóa quy trình phỏng vấn: Ban hành bộ quy chuẩn thống nhất về nội dung và cách thức phỏng vấn trên phạm vi cả nước.
- Điều chỉnh quy trình công nhận kết hôn xác lập ở nước ngoài: Đưa thủ tục phỏng vấn công dân Việt Nam lên trước khi đương sự xuất cảnh đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
- Bổ sung chế tài nghiêm khắc: Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính và bổ sung tội danh môi giới kết hôn trái phép vào Bộ luật Hình sự.
- Tăng cường năng lực hỗ trợ và quản lý: Đánh giá, nâng cao chất lượng của 18 trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân; thí điểm thành lập công ty tư vấn hôn nhân quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh; Bộ Công an mở các đợt cao điểm phòng chống tội phạm buôn bán người dưới vỏ bọc môi giới kết hôn; tích cực đàm phán ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương.
Đóng góp của tác giả so với các nghiên cứu trước:
Tác giả đã cập nhật và phân tích trực tiếp các điểm mới của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (vừa ban hành cuối năm 2014), kịp thời chỉ ra các điểm nghẽn thực thi từ Thông tư số 22/2013/TT-BTP và thực trạng bất cập của các trung tâm hỗ trợ kết hôn so với các công trình nghiên cứu trước đó năm 2006.
Hạn chế và hướng phát triển đề tài
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận bị giới hạn trong khuôn khổ pháp luật quốc gia thực định, không phân tích chuyên sâu các quy định về kết hôn trong các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương mà Việt Nam đã ký kết với các nước. Nguồn số liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên tổng hợp tài liệu thứ cấp và phản ánh từ báo chí, phương tiện truyền thông tại một số địa phương trọng điểm mà chưa có bộ số liệu điều tra xã hội học định lượng diện rộng trên toàn quốc.
- Hướng phát triển đề tài: Nghiên cứu mở rộng việc giải quyết xung đột pháp luật trong các Hiệp định tương trợ tư pháp; khảo sát định lượng tác động kinh tế - xã hội của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 sau một thời gian dài thi hành; đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình các trung tâm tư vấn hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài sau khi kiện toàn bộ máy.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Dân sự và Tư pháp quốc tế có tài liệu nghiên cứu chuyên đề về chế định kết hôn có yếu tố nước ngoài.
- Cán bộ tư pháp - hộ tịch tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và UBND cấp xã khu vực biên giới trong việc nắm bắt trình tự, thủ tục và các dấu hiệu nhận biết kết hôn giả tạo, kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp.
- Các nhà lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước tham khảo các đề xuất cải cách thủ tục hành chính và sửa đổi chế tài xử lý vi phạm.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Phần phân tích chi tiết quy trình, thủ tục, mốc thời gian đăng ký kết hôn theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP tại Chương 2.
- Phân tích 7 nhóm kiến nghị thực tiễn nhằm khắc phục các kẽ hở pháp lý về phỏng vấn và công nhận kết hôn ở nước ngoài tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận xác định quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài gồm những trường hợp nào?
Căn cứ Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khóa luận xác định 4 trường hợp: (1) Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; (2) Giữa những người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; (3) Giữa hai công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài; (4) Giữa hai công dân Việt Nam nhưng có ít nhất một bên định cư ở nước ngoài tại thời điểm đăng ký.
2. Cơ quan nào có thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP?
Thẩm quyền thuộc về: UBND cấp tỉnh (đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc người nước ngoài thường trú với nhau); UBND cấp xã khu vực biên giới (giữa công dân Việt Nam với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở vùng biên giới); Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.
3. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất của thủ tục phỏng vấn kết hôn hiện nay là gì?
Pháp luật quy định phỏng vấn là thủ tục bắt buộc nhưng chưa ban hành quy chuẩn cụ thể về nội dung, cách thức câu hỏi, và quan trọng nhất là không có căn cứ pháp lý cho phép từ chối đăng ký nếu hai bên không thể giao tiếp bằng ngôn ngữ chung hoặc không hiểu hoàn cảnh của nhau, dẫn đến thủ tục phỏng vấn nhiều nơi còn mang tính hình thức hoặc bị lợi dụng tiêu cực.
4. Khóa luận đề xuất giải pháp gì nhằm giảm tải quy trình ký Giấy chứng nhận kết hôn?
Tác giả đề xuất bổ sung quy định cho phép Chủ tịch UBND cấp tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp trực tiếp ký Giấy chứng nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài, giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính sau khi Sở Tư pháp đã hoàn thành thẩm tra và phỏng vấn hồ sơ.
5. Tác giả kiến nghị xử lý hành vi môi giới kết hôn trái phép như thế nào?
Tác giả kiến nghị ngoài việc nâng mức xử phạt vi phạm hành chính để tăng tính răn đe, cần nghiên cứu bổ sung hành vi môi giới kết hôn trái phép thành một tội danh cụ thể trong Bộ luật Hình sự nhằm xử lý triệt để các đường dây trục lợi và mua bán người trá hình.
Kết luận
Khóa luận "Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành" của tác giả Đinh Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu pháp lý có cấu trúc hoàn chỉnh, phân tích sâu sắc cả về phương diện lý luận, lịch sử lập pháp và quy định thực định năm 2014. Tác giả đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý nổi cộm trong công tác phỏng vấn, kiểm soát tình trạng sức khỏe - ngôn ngữ và hoạt động của các trung tâm tư vấn hôn nhân. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính toàn diện, gắn liền với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.