CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Trong những năm gần đây, với chính sách mở rộng hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta đã làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể. Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu quốc tế, các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển một cách đa dạng và phức tạp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trở thành một yêu cầu cấp bách và quan trọng, điều đó không chỉ góp phần ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế mà còn là nhu cầu thiết yếu của xã hội, nhằm hướng đến bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Ở chương này, người viết trình bày về khái quát về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, đồng thời nêu đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, bên cạnh nêu lên nguồn điều chỉnh, và lịch sử hình thành quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Khái quát về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm về kết hôn Theo quan điểm Mác – Lênin gia đình đơn vị nhỏ nhất của xã hội, là tế bào của xã hội, có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội nên gia đình gắn liền với đời sống của xã hội, hạnh phúc của mỗi cá nhân, góp phần quan trọng vào sản xuất, đào tạo con người. Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình” 1. Do đó quan tâm đến gia đình, xây dựng gia đình tốt chính là quan tâm và xây dựng xã hội vững mạnh và ngày một tốt hơn.
Khi nói đến gia đình thì chúng ta không thể bỏ qua mối quan hệ cơ bản nhất trong mỗi gia đình đó chính là hôn nhân. Hôn nhân, trong chừng mực nào đó có thể được định nghĩa như là sự kết hợp giữa hai người, một nam một nữ để chung sống, cùng lao động và sản xuất, cũng như dành cho nhau sự giúp đỡ và hỗ trợ cần thiết trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên ở một số nước thì vấn đề hôn nhân lại có những quy định khác nhau. Một số nước Hồi giáo vẫn thừa nhận rằng hôn nhân là sự kết hợp giữa nam và nữ, 1 Bài nói tại hội nghi cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn Nhân và Gia đình, Hồ Chí Minh toàn tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2000, Trang 531-532 GVHD: Th.S Nguyễn Huỳnh Anh Trang 4 SVTH: Võ Tấn Tài Pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài – Lý luận và thực tiễn nhưng người đàn ông lại được phép thực hiện sự kết hợp đó với nhiều người phụ nữ cùng lúc.
Mặt khác, ở một số nước Bắc Âu, đơn cử là Hà Lan lại xuất hiện xu hướng cho rằng sự khác biệt giới tính không phải là điều kiện bắt buộc của hôn nhân, theo đó thì những người cùng giới tính vẫn có thể chung sống với nhau và pháp luật vẫn công nhận cuộc hôn nhân này. Còn ở Việt Nam thì hôn nhân được định nghĩa như sau: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn2”. Quan hệ hôn nhân ở Việt Nam chỉ được công nhận khi sự kết hợp giữa người nam và người nữ sau khi đã tiến hành thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật. Có thể nói rằng kết hôn chính là điểm khởi đầu của hôn nhân.
Kết hôn được xem như là sự kiện xác lập hôn nhân, tạo nên sự liên kết đặc biệt giữa hai con người và tạo thành quan hệ vợ chồng. Dưới góc độ xã hội, thì kết hôn là việc nam nữ chính thức lấy nhau thành vợ thành chồng. Theo truyền thống và phong tục, tập quán của người Việt Nam thì nam, nữ được coi là chính thức lấy nhau thành vợ chồng khi hai bên nam nữ tổ chức lễ cưới theo nghi lễ truyền thống, và kể từ đó được cộng đồng thừa nhận là vợ chồng. Như vậy, dưới góc độ xã hội kết hôn được hiểu là hình thức xác lập quan hệ vợ chồng.
Dưới góc độ pháp lý, thì kết hôn được giải thích tại Điều 3 khoản 5 luật Hôn Nhân và gia đình 2014 như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Như vậy việc kết hôn pháp luật Việt Nam chỉ công nhận kết hôn là sự kết hợp giữa nam và nữ, không thừa nhận quan hệ kết hôn của những người cùng giới tính3. Việc xác lập quan hệ vợ chồng phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn. Theo đó thì các bên có thể tuân thủ hay không tuân thủ các điều kiện, quy định của phong tục tập quán hay của tôn giáo nhưng bắt buộc phải tuân thủ các điều kiện và nghi thức do pháp luật quy định, hay nói cách khác là kết hôn chính là sự thừa nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xác lập quan hệ vợ chồng của nam và nữ, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau.
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Ngày nay cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu quốc tế, các quan hệ về hôn nhân có yếu tố nước ngoài phát sinh ngày càng nhiều, việc giải quyết xung đột pháp luật trong mối quan hệ đó trở thành yêu cầu quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân của nước mình khi tham gia vào mối quan hệ này. 2 Khoản 1 điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. 3 Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.S Nguyễn Huỳnh Anh Trang 5 SVTH: Võ Tấn Tài Pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài – Lý luận và thực tiễn Việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào pháp luật trong nước mà còn phụ thuộc vào pháp luật nước ngoài và điều ước quốc tế mà các nước kí kết hoặc gia nhập. Về quan hệ kết có yếu tố nước ngoài, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã đề cập đến vấn đề kết hôn tại khoản 5 Điều 3 của luật này: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” và quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại khoản 25 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Như vậy, kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam là việc nam và nữ xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và thỏa điều kiện sau: Thứ nhất, việc kết hôn mà có ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Thứ hai, việc kết hôn giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam với nhau nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài và phát sinh tại nước ngoài. Đối tượng điều chỉnh 1. Yếu tố chủ thể Vấn đề xác định chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường căn cứ vào nguyên tắc luật nhân thân của các bên nam, nữ tham gia vào quan hệ kết hôn, tức dựa vào sự cư trú hoặc dựa vào yếu tố quốc tịch của các bên chủ thể tham gia vào quan hệ kết hôn. Theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là: Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, công dân Việt Nam.
Căn cứ quy định này thì yếu tố chủ thể được chia thành các trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất, chủ thể là người nước ngoài. Khái niệm về người nước ngoài được sử dụng trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam. Theo đó, để làm rõ khái niệm người nước ngoài thì nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ Luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tại khoản 2 Điều 3 đã định nghĩa: “Người GVHD: Th.S Nguyễn Huỳnh Anh Trang 6 SVTH: Võ Tấn Tài Pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài – Lý luận và thực tiễn nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch”. Bên cạnh đó thì Luật Quốc tịch năm 2008, giải thích về quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch theo đó thì: tại khoản 1 Điều 3 giải thích: “Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam”, tại khoản 2 Điều 3 giải thích: “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”.
Như vậy, người nước ngoài ở đây bao gồm các trường hợp: là người có một quốc tịch là quốc tịch nước ngoài, có hai hay nhiều quốc tịch là quốc tịch nước ngoài, hoặc là người không mang quốc tịch của bất kì nước nào. Trường hợp thứ hai, chủ thể là công dân Việt Nam. Khái niệm về công dân Việt Nam được định nghĩa rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.