CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM Để quản lý một tổ chức kinh doanh có qui mô lớn, các nhà quản trị cấp cao thường tiến hành việc phân quyền phù hợp với cấu trúc tổ chức của đơn vị mình. Để phục vụ cho việc kiểm soát kết quả hoạt động của từng bộ phận theo sự phân quyền này, kế toán quản trị đã sử dụng một phương pháp thích ứng – đó là hệ thống kế toán theo các trung tâm trách nhiệm. Ngoại trừ các tổ chức có qui mô rất nhỏ mà có thể được quản lý như một đơn vị riêng biệt, còn các tổ chức khác đều phải phân chia thành các phòng ban hay các đơn vị, bộ phận.
Sự phân chia tổ chức thành các đơn vị, bộ phận giúp cho việc quản lý dẽ dàng và hiệu quả hơn. Dù là nhà quản lý bộ phận hay quản lý cấp cao, nói chung, đều quan tâm đến kết quả của bộ phận do mình quản lý. Chính điều này làm nẩy sinh vấn đề: làm sao để đánh giá tốt nhất kết quả của các đơn vị, bộ phận?. Để hỗ trợ cho quản lý đo lường và kiểm soát kết quả các đơn vị, bộ phận, kế toán quản trị vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng đơn vị, bộ phận.
KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1. Khái niệm về kế toán trách nhiệm Ngay từ những năm 70 của thế kỷ 20 các nhà khoa học trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu về kế toán trách nhiệm và đặc biệt phát triển mạnh trong những năm 90. Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm riêng, mỗi khái niệm là một quan điểm về kế toán trách nhiệm. Luan van 11 - Herry R.Mills (1996) nhấn mạnh đến hệ thống thông tin báo cáo của kế toán trách nhiệm gồm: 1.
” Phân loại sắp xếp các dữ liệu tài chính theo các phạm vi trách nhiệm trong một tổ chức. Báo cáo các hoạt động của mỗi phạm vi chỉ nên bao gồm những doanh thu và chi phí được phân loại mà nhà quản lý đó có thể kiểm soát.Louderback III, Jay S. Dominiak (1999) lại nhấn mạnh đến tính kiểm soát của kế toán trách nhiệm. Theo tác giả, các nhà quản trị thực hiện kiểm soát thông qua hệ thống kiểm soát quản trị, thiết lập một chính sách và thủ tục để giải quyết các hoạt động xảy ra như các kế hoạch, và rút ra kết luận: “Kế toán trách nhiệm là sự thu thập và báo cáo thông tin được dùng để kiểm soát hoạt động và đánh giá quá trình thực hiện.
Một hệ thống kế toán trách nhiệm là một hệ thống thông tin tài chính trong hệ thống kiểm soát quản trị nói chung”. 412] - PGS-TS Đào Văn Tài Trường Đại học Kinh tế thành phố Hố Chí Minh cho rằng: “Kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm”. 88] Như vậy, khái niệm kế toán trách nhiệm được rút ra như sau: Kế toán trách nhiệm là phương pháp kế toán thu thập, ghi nhận, báo cáo và đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận để đánh giá thành quả của từng bộ phận nhằm kiểm soát hoạt động và chi phí của các bộ phận trong tổ chức, phối hợp các bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung toàn doanh nghiệp. Bản chất của kế toán trách nhiệm a.
Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị Ngày nay, kế toán quản trị là bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán doanh nghiệp. Ngoài thông tin kế toán tài chính cung cấp, các nhà quản lý vẫn đòi hỏi có thêm thông tin mang tính kiểm soát và dự báo, chẳng hạn như thu nhập và chi phí phân chia theo bộ phận. Như vậy, kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp thông qua kế toán trách nhiệm, trong khi kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị cấp cao. Kế toán theo các trung tâm trách nhiệm: là một công cụ để đánh giá và kiểm soát trong các công ty phân quyền, thông qua việc xác định các trung tâm trách nhiệm và nhiệm vụ báo cáo của chúng.
Đây là hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (nhà quản trị bộ phận) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vị quản lý của mình. Họ phải xác định, đánh giá và báo cáo lên trong tổ chức, thông qua đó các cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả các bộ phận trong tổ chức. Tóm lại, kế toán trách nhiệm là một trong những nội dung quan trọng của kế toán quản trị. Kế toán trách nhiệm không chỉ bảo đảm cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn xác định ai, ở đâu là người chịu trách nhiệm, bộ phận nào có quyền kiểm soát đối với hoạt động xảy ra, qua sơ đồ sau: Thông tin Kế toán trách Nhà quản trị nhiệm các cấp Trách nhiệm Như vậy, kế toán trách nhiệm bao gồm hai mặt: thông tin và trách nhiệm.
Trong đó, mặt thông tin có nghĩa là kế toán trách nhiệm là sự tập hợp, báo cáo, Luan van 13 đánh giá các thông tin mang tính nội bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ cấp quản lý cấp dưới lên cấp quản lý cao hơn. Mặt trách nhiệm nghĩa là quy trách nhiệm về những sự kiện tài chính xảy ra. Nhà quản lý bộ phận phải có nhiệm vụ báo cáo lên cấp quản lý cao hơn về những chi phí, lợi nhuận mà mình đảm nhận và giải trình từng sự kiện và kết quả tài chính mà mình có quyền kiểm soát. Tuỳ thuộc vào việc sử dụng hai mặt này mà hiệu quả của hệ thống sẽ khác nhau.
Nếu hệ thống quá nhấn mạnh đến mặt đánh giá trách nhiệm của nhà quản lý, sẽ ảnh hưởng đến thái độ của họ theo chiều hướng tiêu cực; thay vì tìm ra nguyên nhân và khắc phục sai phạm, họ sẽ tìm cách che đậy sai phạm, đối phó và hoài nghi về hệ thống kiểm soát, đánh giá của tổ chức và tìm cách phá vỡ hệ thống này. Lúc này hệ thống kế toán trách nhiệm không hoàn thành mục tiêu đã đặt ra. Nhưng khi hệ thống kế toán trách nhiệm nhấn mạnh mặt thông tin thì nhà quản lý sẽ có những phản ứng tích cực. Khi phát sinh những chênh lệch bất lợi, họ sẽ giải thích nguyên nhân dẫn đến sai phạm, tìm cách khắc phục tiêu cực và cố gắng nổ lực cho thành quả của doanh nghiệp được cải thiện hơn.
Do vậy, có thể thấy trọng tâm của hệ thống trách nhiệm là thông tin. Khi sử dụng đúng đắn kế toán trách nhiệm, ta sẽ không quá nhấn mạnh đến việc quy trách nhiệm, nên xem trách nhiệm là một yếu tố góp phần vào hiệu quả thông tin của hệ thống. Kế toán trách nhiệm là một bộ phận trong hệ thống kiểm soát quản trị Nói đến kế toán quản trị là phải nói đến vai trò cung cấp thông tin cho kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện để có thể đưa ra những điều chỉnh kịp thời nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Hệ thống kiểm soát quản trị có 2 yếu tố: Luan van 14 Thứ nhất là quá trình lập kế hoạch gồm các ngân sách và các kế hoạch dài hạn.
Quá trình này sử dụng để thiết lập các chỉ tiêu kế hoạch nhằm đánh giá quá trình thực hiện. Thứ hai là kế toán trách nhiệm mà chủ yếu là tạo ra các trung tâm trách nhiệm. Trung tâm trách nhiệm chịu trách nhiệm kết quả tài chính và tác động hiệu quả của từng cá nhân trong tổ chức. Mục tiêu của kế toán trách nhiệm là tập hợp chi phí và doanh thu trong từng trung tâm trách nhiệm để tính ra độ lệch so với mục tiêu thực hiện (điển hình là dự toán) mà có thể quy trách nhiệm cho từng cá nhân đứng đầu trung tâm trách nhiệm.
Mỗi trung tâm trách nhiệm đều có tiến trình sau: TIẾN TRÌNH CỦA MỘT TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM Thiết lập mục tiêu Đo lường kết quả thực hiện So sánh kết quả thực hiện với mục tiêu và báo cáo Phân tích sự sai biệt (độ lệch) Đưa ra ảnh hưởng khi có sự sai biệt đáng kể giữa thực tế và kế hoạch Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tiến trình của một trung tâm trách nhiệm Mục tiêu tài chính thực hiện của trung tâm lợi nhuận và đầu tư là những chỉ tiêu đặc trưng về lợi nhuận, tỉ lệ hoàn vốn đầu tư hoặc giá trị kinh tế tăng thêm, trong khi mục tiêu của trung tâm chi phí được xác định là các chỉ tiêu về chi phí. Luan van 15 Kế toán trách nhiệm phải thực hiện đầy đủ các báo cáo thực hiện trong khoảng thời gian nhất định một cách thường xuyên. Trong các báo cáo đó nhà quản trị các trung tâm trách nhiệm phải tìm thấy sự sai lệch so với kế hoạch mà họ quản lý và phải đưa ra được những ảnh hưởng. Tóm lại, kế toán trách nhiệm là công cụ để thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm, tìm ra các sai lệch giữa thực tế và dự toán trên cơ sở đó kiểm soát hoạt động và chi phí của từng bộ phận.
Nguyên tắc kiểm soát của kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm dựa trên sự ứng dụng các nguyên tắc kiểm soát mà điều đó có nghĩa là nó thích hợp với việc giao trách nhiệm cho một bộ phận chịu ảnh hưởng đáng kể bởi nhà quản trị của trung tâm trách nhiệm đó. Các nguyên tắc kiểm soát có thể được thực hiện đầy đủ nếu loại trừ những khoản mục không thể kiểm soát được trong giới hạn mà nhà quản trị phải chịu trách nhiệm hoặc tính toán hiệu quả, vì vậy trong báo cáo phải phân biệt được chi phí kiểm soát được và những chi phí không kiểm soát được. Đây là chìa khoá thành công của hệ thống kế toán trách nhiệm. Lý thuyết này cho rằng, mỗi đồng chi phí hoặc doanh thu của công ty đều có thể theo dõi và được kiểm soát bởi ít nhất một nhà quản trị.