CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.KHÁI NIỆM – VAI TRÒ – Ý NGHĨA CỦA KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM 1.Khái niệm tiêu thụ thành phẩm: Tiêu thụ là khâu cuối cùng của chu trình sản xuất kinh doanh, ở đó diễn ra quá trình chuyển giao quyền sở hữu thành phẩm đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền hoặc được chấp nhận thanh toán. Như vậy, xét về mặt hành vi, quá trình tiêu thụ là quá trình thỏa thuận giữa người mua và người bán, còn xét về bản chất kinh tế thì tiêu thụ là quá trình chuyển giao quyền sở hữu. Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5)điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sảnphẩm hoặc hànghóa cho người mua; - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóahoặc quyền kiểm soát hàng hóa; - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịchbán hàng; - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.Vai trò của hoạt động tiêu thụ thành phẩm: Tiêu thụ có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất vật chất, là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn sản xuất kinh doanh. Trong tiêu dùng, quá trình tiêu thụ cung cấp hàng hóa, đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng của doanh nghiệp sản xuất là sản xuất hàng hóa phục vụ cho nhu cầu của xã hội bao gồm các khâu cung ứng, sản xuất, tiêu thụ. Vì vậy, các doanh nghiệp không những có nhiệm vụ sản xuất ra thành phẩm mà còn phải tổ chức tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường thì mới thực hiện đầy đủ chức năng của mình. Trong quá trình lưu chuyển vốn, tiêu thụ là khâu giữ vị trí quan trọng trong trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp, các khâu cung ứng và sản xuất thành phẩm đều phụ thuộc vào việc thành phẩm có tiêu thụ được hay không. Vì vậy, có thể nói, tiêu thụ là cơ sở để bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
10 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Bích Ngọc Viện Đại học Mở Hà Nội GVHD: Lê Thị Hồng Phương 1.Ý nghĩa của tiêu thụ thành phẩm: Đối với doanh nghiệp, tiêu thụ thành phẩm là hoạt động tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí, hình thành kết quả kinh doanh. Thực hiện tốt khâu tiêu thụ, hoàn thành kế hoạch bán hàng thì doanh nghiệp mới thu hồi vốn, có điều kiện quay vòng vốn, tiếp tục sản xuất kinh doanh và tích lũy để mở rộng sản xuất. Đối với người tiêu dùng, quá trình tiêu thụ cung cấp hàng hóa cần thiết một cách kịp thời đầy đủ và đồng bộ về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Thông qua tiêu thụ, tính hữu ích của sản phẩm mới được thực hiện, phản ánh sự phù hợp của sản phẩm với người tiêu dùng.
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tiêu thụ là điều kiện để tiến hành tái sản xuất xã hội. Quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm các khâu: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng, giữa các khâu có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó, tiêu thụ (trao đổi) là cầu nối giữa các nhà sản xuất với người tiêu dùng, phản ánh cung và cầu gặp nhau về hàng hóa, qua đó định hướng về sản xuất. Thông qua thị trường tiêu thụ góp phần điều hòa giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng, giữa hàng hóa và tiền tệ: giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán… Do vậy, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ thành phẩm có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy sử dụng nguồn lực và phân bổ nguồn lực có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua khối lượng hàng hóa được thị trường chấp nhận và lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được.
CÁC PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ THÀNH PHẨM 1.Phương thức tiêu thụ trực tiếp Tiêu thụ trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho (hay trực tiếp tại các phân xưởng sản xuất, không qua kho) của doanh nghiệp. Người mua thanh toán hay chấp nhận thanh toán số hàng mà người bán đã giao. Số hàng khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ và người bán mất quyền sở hữu về số hàng này.Phương thức hàng gửi bán chờ chấp nhận Tiêu thụ theo phương thức gửi bán, chờ chấp nhận là phương thức mà bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm ghi trong hợp đồng. Số hàng chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán.
Khi được bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì 11 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Bích Ngọc Viện Đại học Mở Hà Nội GVHD: Lê Thị Hồng Phương số hàng được bên mua chấp nhận này mới được coi là tiêu thụ và bên bán mất quyền sở hữu về số hàng đó.Phương thức đại lý ký gửi Bán hàng đại lý, ký gửi là phương thức mà bên chủ hàng (gọi là bên giao đại lý) xuất hàng cho bên nhận đại lý ký gửi (gọi là bên đại lý) để bán. Bên đại lý bán đúng giá của chủ hàng sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng (hoa hồng đại lý).Theo phương thức này, đơn vị có hàng gửi đại lý, ký gửi chuyển hàng cho đơn vị bán, khi bên nhận đại lý, ký gửi thông báo đã bán được hàng thì khi đó doanh nghiệp mới được coi là hàng đã tiêu thụ.Phương thức bán trả góp Bán hàng trả góp là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Theo phương thức này, người mua chỉ trả trước một phần giá trị của hàng mua ngay tại thời điểm mua, phần còn lại trả góp dần trong nhiều lần. Doanh nghiệp ngoài số tiền thu theo giá bán một lần còn thu thêm một khoản lãi vì trả chậm.Các phương thức tiêu thụ khác - Tiêu thụ nội bộ: Tiêu thụ nội bộ là phương thức mua, bán sản phẩm hàng hóa giữa các đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một doanh nghiệp.
Ngoài ra, được coi là tiêu thụ nội bộ còn bao gồm các khoản sản phẩm hàng hóa, dịch vụ xuất biếu, tặng, xuất trả lương, thưởng, xuất dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh…. - Tiêu thụ hàng gia công: Gia công hàng hóa là việc doanh nghiệp sản xuất làm thuê cho bên có vật tư, sản phẩm, hàng hóa để làm ra sản phẩm theo yêu cầu của đối tác. Tiêu thụ hàng gia công chính là việc doanh nghiệp bàn giao hàng hóa đã gia công xong cho khách hàng. - Tiêu thụ theo phương thức hàng đổi hàng: Đây là phương thức mà người bán đem sản phẩm hàng hóa của mình để đổi lấy hàng hóa của người mua.
Giá trị trao đổi là giá thỏa thuận giữa 2 bên. Khi trao đổi hàng hóa, có thể xảy ra trường hợp trao đổi tương tự hoặc không tương tự. 12 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Bích Ngọc Viện Đại học Mở Hà Nội GVHD: Lê Thị Hồng Phương 1. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN 1.Thanh toán bằng tiền mặt Là hình thức bán hàng thu tiền ngay, nghĩa là khi giao hàng cho khách hàng thì người mua nộp tiền ngay vào quỹ.
Theo phương thức này, khách hàng có thể được hưởng chiết khấu theo hóa đơn.Thanh toán không dùng tiền mặt - Chuyển khoản qua ngân hàng - Séc - Ngân phiếu - … 1. XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ Kết quả tiêu thụ là kết quả của hoạt động sản xuất kinh của doanh nghiệp sau một kỳ nhất định biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ. Doanh thu thuần= Tổng doanh thu – Các khoản giảm trừ doanh thu Trong đó: + Doanh thu: Thu nhập thực hiện được từ bán hàng hoá dịch vụ + Các khoản giảm trừ doanh thu: bao gồm - Hàng bán bị trả lại: Là số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất, không đúng quy cách.Trị giá hàng bán bị trả lại tính theo đúng đơn giá trên hoá đơn. Hàng bán bị trả lại kỳ nào thì được ghi giảm trừ doanh thu vào kỳ đó.
- Giảm giá hàng bán: Giảm giá hàng bán là khoản tiền được người bán chấp nhận một cách đặc biệt trên giá thoả thuận vì lý do hàng kém phẩm chất hay không đúng quy cách theo hợp đồng kinh tế. - Chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại là số tiền giảm trừ cho người mua do người mua đã mua hàng với số lượng nhiều. Chiết khấu thương mại thường được ghi rõ trong hợp đồng kinh tế. Lưu ý:Bên cạnh các khoản giảm trừ doanh thu,“Chiết khấu thanh toán”là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.Chiết khấu thanh toán về bản chất là khoản chi phí tài chính, được hạch toán vào tài khoản 635 và không làm giảm doanh thu.
13 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Bích Ngọc Viện Đại học Mở Hà Nội GVHD: Lê Thị Hồng Phương Lợi nhuận gộp= Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán Trong đó: + Giá vốn hàng bán:Phản ánh giá trị gốc của sản phẩm hàng hoá,thành phẩm,dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ. Các phương pháp tính giá vốn hàng bán bao gồm: - Phương pháp Nhập trước xuất trước (FIFO): theo đó, hàng nào nhập trước thì xuất trước, chỉ khi xuất hết số lượng hàng nhập trước thì mới xuất tiếp số lượng hàng nhập sau theo Giá trị thực tế của hàng tồn kho về nhập kho. - Phương pháp Nhập sau xuất trước (LIFO): theo phương pháp này, hàng hóa nào nhập kho sau sẽ được xuất ra sử dụng trước. Do đó, giá trị hàng hóa xuất kho được tính hết theo giá nhập kho mới nhất, rồi tính tiếp theo giá nhập kho kế tiếp sau đó.
Như vậy giá trị hàng hóa tồn kho sẽ được tính theo giá tồn kho cũ nhất. - Phương pháp Giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này, Hàng tồn kho được xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy Đơn giá thực tế nhập kho của lô hàng đó làm Đơn giá xuất kho của Hàng tồn kho được xuất.