CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ KÉ TOÁN TIÈN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 1.1 Những vấn đề chung về tiền lương và các khoản trích theo lương 1.1 Khái niệm và bản chất ciia tiền lương 1.1 Khái niệm tiền lương Theo To chức lao động quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sừ dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sừ dụng lao động phải trả cho người lao động theo Hợp đồng lao động cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sè phải làm. Ớ Việt Nam hiện nay có sự phân biệt các yếu tố trong tống thu nhập của người lao động từ công việc: Tiền lương (dụng ý chì lương cơ bản), phụ cấp và phúc lợi. Theo quan điểm cải cách tiền lương năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường và được trả cho năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Như vậy, tiền lương được hiếu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại, tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trinh tạo ra của cải trong xã hội.2 Bản chất tiền lương Theo quan điểm tiền lương và số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động đế hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ quy định thì bản chất của tiền lương là giá cả hàng hoá sức lao động được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sừ dụng lao động đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu.
1 Tiền lương người lao động nhận được phải đảm bảo là nguồn thu nhập, nguồn sống của bản thân người lao động và gia đình, là điều kiện của người lao động hoà nhập với xà hội. Cũng như các loại giá cả hàng hoá khác trên thị trường tiền lương và tiền công của người lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh do thị trường quyết định. Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động bắt nguồn từ kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong các yếu tổ cơ bản của quá trình sản xuất, sức lao động là yếu tố mang tính quyết định.
Do đó có thế nói bản chất của tiền lương là phạm trù cùa sản xuất yêu cầu phải tính đúng, tính đủ trước khi trả hoặc cấp phát cho người lao động. Cũng chính vì sức lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất cần phải được bù đắp sau khi đã hao phí, nên tiền lương cũng phải được thông qua quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân dựa trên hao phí, hiệu quả lao động. Và ở đây tiền lương lại the hiện là một phạm trù phân phối. Sức lao động là hàng hoá nên tiền lương cũng là phạm trù trao đổi.
Nó đòi hỏi phải ngang giá với giá cà tư liệu dùng, sinh hoạt. Như vậy bản chất cùa tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá. Tiền lương là biếu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động mà người lao động để bù đắp hao phí lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.2 Vai trò và chức năng của tiền lương 1.1 Vai trò Tiền lương là một phạm trù kinh tế, nó gắn liền với lao động và nền sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện còn tồn tại nền sản xuất hàng hóa và tiền tệ, thì tiền lương còn là một yếu tố của chi phí sản xuất kinh doanh.
Vì vậy tiền lương có các vai trò quan trọng sau: 2 • về mặt kinh tế: Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định phát triển kinh tế gia đình, người lao động dùng tiền lương đe trang trải các chi phí trong gia đình (ăn ở, đi lại, học hành, chừa bệnh, vui chơi giải trí.Phần còn lại để tích lũy. • về chính trị xã hội: Tiền lương không chỉ ảnh hưởng đến tâm tư nguyện vọng của người lao động đổi với doanh nghiệp mà còn đối với xã hội. Neu tiền lương cao sẽ ảnh hưởng tích cực và ngược lại họ sẽ không tha thiết với doanh nghiệp, chán nản công việc. • Vai trò kích thích của tiền lương: Tiền lương phải tạo ra được niềm say mê nghề nghiệp, khuyến khích người lao động không ngừng học tập văn hóa khoa học kỳ thuật, rèn luyện kỳ năng trong lao động sản xuất.
• Vai trò quản lý lao động của tiền lương: Thông qua việc trả lương doanh nghiệp kiếm tra theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo mục tiêu của doanh nghiệp, đảm bảo tiền lương chi ra phải đem lại kết quả và hiệu quả rõ rệt.2 Chức năng Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp thường sử dụng tiền lương làm đòn bẩy để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy đe tăng năng suất lao động. Vì vậy tiền lương có các chức năng sau: • Chức năng tái sàn xuất sức lao dộng: Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vật chất, sức lao động cũng cần phải được tái tạo. Trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức lao động có sự khác nhau. Sự khác nhau này the hiện bởi quan hệ sản xuất thống trị.
Song nhìn chung quá trình tái sản xuất sức lao động diễn ra trong lịch sử the hiện rõ sự tiến bộ của xã hội. Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của nhùng thành tựu khoa học - kỹ thuật mà nhân loại sáng tạo ra. Chính nó đã làm cho sức lao động được tái sản xuất ngày càng tăng cà về số lượng và cả về chất lượng. Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua tiền lương.
3 Sức lao động là sản phấm chủ yếu của xã hội, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên được duy trì và khôi phục. Như vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho người lao động có một số lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể: - Duy trì và phát triển sức lao động của chính mình - Sản xuất ra sức lao động mới - Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỳ năng lao động, tăng cường chất lượng lao động • Chức năng là đòn bấy kinh tể: Các mác đã viết: “Một tư tưởng tách rời lợi ích kinh tế thì nhất định sẽ làm nhục nó”. Thực tế cho thấy rằng khi được trả công xứng đáng thì người lao động sè làm việc tích cực, sẽ không ngừng hoàn thiện mình hơn nữa và ngược lại, nếu người lao động không được trả lương xứng đáng với công sức cùa họ bỏ ra thì sẽ có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích kinh doanh cùa doanh nghiệp. Thậm chí nó sè có những cuộc đình công xảy ra, bạo loạn gây nên xáo trộn về chính trị, mat on định xã hội.
ở một mức độ nhất định thì tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người lao động trong gia đình, tại doanh nghiệp cũng như ngoài xà hội. Do đó cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của người lao động đối với sự phát triến của doanh nghiệp, đe tiền lương trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đấy sản xuất phát trien. • Chức năng diều tiết lao động: Trong quá trình thực hiện ke hoạch phát trien cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, Nhà nước thường thông qua hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ đó tiền lương đã góp phần tạo ra một cơ cấu họp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội.
• Chức năng thước đo hao phí lao dộng xã hội: 4 Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc, thì xã hội có thế xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người lao động. Điều này có nghía trong công tác thống kê, giúp Nhà nước hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo hợp lý thực tế, phù hợp với chính sách của nhà nước. • Chức năng công cu qưán lý nhà nước: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, người sử dụng lao động đứng trước hai sức ép: Chi phí sản xuất và kết quả sản xuất. Họ thường tìm mọi cách có thể để làm giảm thiếu chi phí trong đó có tiền lương trả cho người lao động.
Bộ luật lao động ra đời, trong đó có chế độ tiền lương, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động đồng thời tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hòa và on định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xà hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, tăng hiệu quả sử dụng và quản lý lao động. —»Với các chức năng trên ta có the thấy tiền lương đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đấy sản xuất và phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.3 Phân loại lao động Căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp đảm nhận cũng như của từng bộ phận trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và Lao động gián tiếp. • Lao động trực tiếp gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD tạo ra sản phấm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động trực tiếp được phân thành các loại: - Lao động có tay nghề cao: gồm những người đà qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao.