CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 1. Khái quát về tiền lương và các khoản trích theo lương 1. Khái niệm và đặc điểm của tiền lương và các khoản trích theo lương ❖ Khái niệm của tiền lương Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cả 3 yếu tố cơ bản: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và người lao động. Trong đó người lao động là yếu tố có tính chất quyết định.
Lao động là hoạt động chân tay và hoạt động trí óc của con người nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết. Vậy tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả lao động cuối cùng. Tiền lương của người lao động được xác định theo hai cơ sở chủ yếu là số lượng và chất lượng lao động của mỗi người. Trong quá trình sản xuất kinh doanh đối với các chủ doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí quan trọng cấu thành chi phí sản xuất kinh doanh nên tiền lương luôn được tính toán quản lý chặt chẽ nhằm tiết kiệm chi phí, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động.
Còn đối với người lao động, tiền lương là khoản thu nhập chủ yếu từ quá trình lao động, ảnh hưởng tới mức sống của họ nên nó là đòn bẩy khuyến khích người lao động hăng say lao động. Chính vì thế tiền lương chi phối các quy luật kinh tế nhất là quy luật cung - cầu. Theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, lương (tiền lương) được quy định là tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau. 13 ❖ Quỹ lương và các khoản trích theo lương. Quỹ tiền lương - Quỹ tiền lương là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp trích ra từ doanh thu để trả lương cho công nhân viên của doanh nghiệp,do doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng và chi trả. Quỹ lương của doanh nghiệp bao gồm: + Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế và các khoản phụ cấp thường xuyên như: Phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ, tăng ca, phụ cấp khu vực.
+ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, do những nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép. Lưu ý, quỹ lương không bao gồm các khoản tiền thường không thường xuyên như thưởng phát minh, sáng kiến, các khoản trợ cấp không thường xuyên như trợ cấp khó khăn đột xuất, công tác phí, bảo hộ lao động… Trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí mất sức hay tử tuất…sẽ được hưởng khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH). Khoản chi trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí và tử tuất được tính trên cơ sở số lượng, chất lượng lao động và thời gian mà người lao động đã cống hiến cho xã hội trước đó.Nhằm xã hội hoá việc khám chữa bệnh người lao động còn được hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm các khoản chi về viện phí, thuốc men, khi bị ốm đau. Điều kiện để người lao động được khám chữa bệnh không mất tiền là họ phải có thẻ y tế.
Bên cạnh hai khoản trích nói trên, doanh nghiệp còn phải trích quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) để trợ cấp cho người lao động trong thời gian mất việc, chưa tìm được việc làm mới. Ngoài ra để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn được thành lập theo luật công đoàn, doanh nghiệp phải trích lập quỹ kinh phí công đoàn. Quỹ kinh phí công đoàn (KPCĐ) được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Quỹ bảo hiểm xã hội Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo hay bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc tử tuất trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Theo chế độ hiện hành, hàng tháng doanh nghiệp sẽ tiến hành trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 25,5% trên tổng số lương thực tế phải trả người lao động trong tháng, trong đó 17,5% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và 8% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHXH được trích lập tạo ra nguồn vốn tài trợ cho người lao động trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động. Tác dụng chủ yếu của BHXH là giúp người lao động chống đỡ khó khăn, thiếu hụt về kinh tế đồng thời tạo ra được chỗ dựa tâm lý để họ yên tâm làm việc, từ đó nâng cao hiệu quả của công việc, hạn chế được tình trạng ngừng trệ của hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm thiệt hại cho người sử dụng lao động và làm cho người lao động gắn bó hơn với Nhà nước, cơ quan và toàn xã hội. Quỹ bảo hiểm y tế Quỹ BHYT là một khoản trợ cấp được trích lập nhằm phục vụ, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động.
Cơ quan bảo hiểm sẽ thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo tỷ lệ nhất định mà Nhà nước quy định cho những người tham gia đóng bảo hiểm. Quỹ BHYT được trích để tài chợ cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 4,5% trên tổng số lương thực tế phải trả người lao động trong tháng. Trong đó 3% tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp và 1,5% trừ vào lương của người lao động.
Kinh phí công đoàn Kinh phí công đoàn là khoản tiền được trích lập nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp. 15 Theo quy định, hàng tháng doanh nghiệp trích 2% KPCĐ trên tổng số tiền lương thực tế trả người lao động trong tháng và được tính toàn bộ vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Toàn bộ số KPCĐ trích được một phần nộp lên cơ quan công đoàn cấp trên, một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại đơn vị KPCĐ được trích lập để phục vụ chi tiêu cho hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo luật định.
Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ. Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp. Những người lao động này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỷ lệ nhất định. Ngoài ra, chính sách BHTN còn hỗ trợ học nghề và tìm việc làm đối với những người tham gia BHTN Theo quy định mức đóng bảo hiểm thất nghiệp tại doanh nghiệp là 2% trong đó 1% tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp và 1% trừ vào lương của người lao động có tham gia đóng BHTN 1.
Ý nghĩa, chức năng của tiền lương và các khoản trích theo lương. ❖ Ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương Tăng cường quản lý lao động, cải tiến và hoàn thiện việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động, cải tiến và hoàn thiện chế độ tiền lương, chế độ sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được xem là một phương tiện hữu hiệu để kích thích người lao động gắn bó với hoạt động SXKD, rèn luyện tay nghề, nâng cao năng suất lao động. Trên cơ sở các chính sách chế độ và lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ Nhà nước đã ban hành, các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm ngành mình phải tổ chức tốt lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh 16 doanh, đồng thời tính toán, thanh toán đầy đủ kịp thời các khoản tiền lương, tiền thưởng, BHXH, BHYT đúng chính sách, chế độ sử dụng tốt kinh phí công đoàn nhằm khuyến khích người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần thực hiên tốt kế hoạch SXKD của đơn vị. ❖ Chức năng của tiền lương và các khoản trích theo lương - Chức năng tài sản xuất sức lao động: Quá trình tái sản xuất lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua lương.
Bản chất của sức lao động là sản phẩm lịch sử luôn được hoàn thiện và nâng cao nhờ thường xuyên được khôi phục và phát triển, còn bản chất của tái sản xuất sức lao động là có được một tiền lương sinh hoạt ổn định để họ có thể duy trì và phát triển sức lao động mới tích luỹ kinh nghiệm và nâng cao trình độ, hoàn thiện kỹ năng lao động. - Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp: Mục đích cuối cùng của các nhà quản trị là lợi nhuận cao nhất. Để đạt được mục tiêu đó họ phải biết kết hợp nhịp nhàng và quản lý một cách có nghệ thuật các yếu tố trong quá trình kinh doanh. Người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra giám sát, theo dõi người lao động làm việc theo kế hoạch, tổ chức của mình thông qua việc chi trả lương cho họ, phải đảm bảo chi phí mà mình bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu quả cao nhất.
Qua đó người sử dụng lao động sẽ quản lý chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng cho người lao động. - Chức năng kích thích lao động: Với một mức lương thoả đáng sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển tăng năng xuất lao động.