MỞ ĐẦU ------ ------ Lời cảm ơn! Lời đầu tiên em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Ban giam hiệu Viện Đại học Mở Hà Nội. Các thầy, cô đã tạo điều kiện cho em được học tại trường và có cơ hội để học hỏi thêm nhiều điều bổ ích, tiếp thu nhiều điều mới lạ trong cuộc sống. Em xin được cảm ơn các thầy, cô giáo đang giảng dạy trong khoa Kế toán. Các thầy cô đã hết sức quan tâm và nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện cho em có được giờ lên lớp bổ ích, nhiều bài học hay, những kiến thức làm nền tảng để khi ra trường với những kiến thức đó sẽ giúp em không bỡ ngỡ trong công việc của mình sau này.
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Lê Thị Hồng Phương – là cô giáo trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian học và trong thời gian làm khóa luận này. Những kiến thức và những bài giảng cũng như sự hướng dẫn nhiệt tình của cô đã giúp đỡ em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình. Qúa trình thực tập giúp em hoàn thiện và nâng cao kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng làm việc thực tế. Em còn có cơ hội để vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá thực trạng nghiệp vụ kế toán của đơn vị nơi mình thực tập, và qua đó đánh giá, đưa ra ký kiến để hoàn thiện, khắc phục hạn chế, bất cập trong nghiệp vụ kế toán tiền lương trong công ty.
Do đây là lần đầu tiên làm khóa luận nên không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý nhiệt tình của quý thầy cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn! 1 Đỗ Thị Hà Trang K20 - KT1 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Lý do chọn đề tài Một doanh nghiệp, một xã hội được coi là phát triển khi lao động có năng suất, có chất lượng, và đạt hiệu quả cao. Như vậy, nhìn từ góc độ "Những vấn đề cơ bản trong sản xuất – thương mại" thì lao động là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như thương mại.
Nhất là trong tình hình hiện nay nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế tri thức thì lao động có trí tuệ, có kiến thức, có kỹ thuật cao sẽ trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra năng suất cũng như chất lượng lao động. Trong quá trình lao động người lao động đã hao tốn một lượng sức lao động nhất định, do đó muốn quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục thì người lao động phải được tái sản xuất sức lao động. Trên cơ sở tính toán giữa sức lao động mà người lao động bỏ ra với lượng sản phẩm tạo ra cũng như doanh thu thu về từ lượng những sản phẩm đó, doanh nghiệp trích ra một phần để trả cho người lao động đó chính là tiền công của người lao động (tiền lương). Tiền lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động được dùng để bù đắp sức lao động mà người lao động đã bỏ ra.
Xét về mối quan hệ thì lao động và tiền lương có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau. Như vậy, trong các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, yếu tố con người luôn đặt ở vị trí hàng đầu. Người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi sức lao động mà họ bỏ ra được đền bù xứng đáng dưới dạng tiền lương. Gắn với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí Công đoàn và bảo hiểm thất nghiệp.
Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến từng người lao động. Có thể nói rằng, tiền lương và các khoản trích theo lương là một trong những vấn đề được cả doanh nghiệp và người lao động quan tâm. Vì vậy việc hạch toán, phân bổ chính xác tiền lương cùng các khoản trích theo lương vào giá thành sản phẩm sẽ một phần giúp cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường nhờ giá cả hợp lý. Qua đó cũng góp cho người lao động thấy được quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy việc nâng cao chất lượng lao động của doanh nghiệp.
Mặt khác việc tính đúng, tính đủ và thanh toán kịp thời 2 Đỗ Thị Hà Trang K20 - KT1 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tiền lương cho người lao động cũng là động lực thúc đẩy họ hăng say sản xuất và yên tâm tin tưởng vào sự phát triển của doanh nghiệp. Nhận thức rõ vấn đề trên, em đã chọn đề tài “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương” tại Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ & Xuất nhập khẩu Hải Phòng” để viết khóa luận tốt nghiệp. Báo cáo gồm có 4 phần chính như sau: Phần 1: Tổng quan về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. Phần 2: Khái quát chung về Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ & Xuất nhập khẩu Hải Phòng Phần 3: Thực trạng nghiệp vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ & Xuất nhập khẩu Hải Phòng Phần 4: Một số ý kiến nhận xét và hoàn thiện nghiệp vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ & Xuất nhập khẩu Hải Phòng.
3 Đỗ Thị Hà Trang K20 - KT1 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Sự cần thiết khách quan phải tổ chức kế toán tiền lương và các khoản phải trích theo lương trong doanh nghiệp: 1. Bản chất và chức năng của tiền lương 1. Bản chất của tiền lương Tiền lương là biểu hiện bằng tiền hay sản phẩm mà người sử dụng lao động trả cho người lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến.
Như vậy tiền lương thực chất là khoản thù lao gắn với kết quả lao động mà doanh nghiệp trả cho người lao động. Chức năng của tiền lương Tiền lương có chức năng vô cùng quan trọng nó là đòn bẩy kinh tế vừa khuyến khích người lao động chấp hành kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, giờ công, năng suất lao động giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Cụ thể: - Chức năng thước đo giá trị: Biểu hiện giá cả sức lao động, là cơ sở điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả biến động. - Chức năng tái sản xuất sức lao động: Đây là yêu cầu thấp nhất của tiền lương đúng với nghĩa của nó.
Tiền lương phải đảm bảo tính tái sản xuất, tức là nuôi sống người lao động, duy trì sức lao động, năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lương đảm bảo bù đắp được sức lao động đã hao phí cho người lao động. Vì vậy tiền lương được tính toán trên ba mặt: Mặt thứ nhất: Duy trì và phát triển sức lao động của chính bản thân người lao động. Mặt thứ hai: Sản xuất ra sức lao động mới ( Nuôi dưỡng thế hệ sau) Mặt thứ ba: Tích luỹ kinh nghiệm, hoàn thành kĩ năng lao động, nâng cao trình độ tay nghề ( Tăng cường chất lượng lao động). - Chức năng kích thích sức lao động: Tiền lương là động lực chủ yếu kích thích người lao động làm việc tích cực hơn, thúc đẩy người lao động cải cách một 4 Đỗ Thị Hà Trang K20 - KT1 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương cách có hệ thống các phương pháp tổ chức lao động, sử dụng tốt và hiệu quả ngày công lao động, máy móc thiết bị, tiết kiệm nguyên vật liệu, phát huy sáng kiến, nâng cao trình độ văn hoá nghiệp vụ của người lao động.
Từ đó giúp họ làm việc có hiệu quả nhất, với mức tiền lương xứng đáng nhất. Phần lương cơ bản là cơ sở để xác định phần phụ cấp ngoài lương cho công nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, hoặc có sáng kiến phát minh khoa học, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tiền thưởng là một trong những công cụ quản lý có hiệu quả nhất, khắc phục những thiếu sót của lương cơ bản, nhằm tăng cường hơn nữa sự quan tâm vật chất của người lao động trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. - Chức năng công cụ quản lý của Nhà nước: Tiền lương với chế độ của nó là những đảm bảo có tính chất pháp lý của Nhà nước buộc người sử lao động phải trả theo công việc đã hoàn thành của người lao động, đảm bảo quyền lợi tối thiểu người mà họ được hưởng.
Từ đó mới phát huy được chức năng kích thích người lao động, căn cứ vào yêu cầu cơ bản này thông qua thực hiện tình hình kinh tế xã hội mà Nhà nước đặt ra chế độ tiền lương phù hợp, như một văn bản bắt buộc đối với người sử dụng lao động. Các cơ sở sản xuất kinh doanh lấy một phần thu nhập của mình để trả lương. Người lao động được giới hạn giữa mức tối thiểu do Nhà nước quy định và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì điều này buộc người sử dụng lao động phải biết tiết kiệm sức lao động cũng như những chi phí khác.
- Chức năng điều tiết lao động: Thông qua hệ thống thang lương, bảng lương và các chế độ phụ cấp được xác định cho từng ngành, từng vùng với mức tiền lương đúng đắn và thoả mãn thì người lao động sẽ tự nguyện nhận công việc được giao. Tiền lương tạo ra động lực và là công cụ điều tiết giữa các ngành, các vùng trên toàn lãnh thổ, góp phần tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, đó là điều kiện cơ bản để Nhà nước thực hiện kế hoạch cân đối vùng - ngành - lãnh thổ. Vai trò và ý nghĩa của tiền lương 1. Vai trò của tiền lương Tiền lương có vai trò rất to lớn nó làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động vì tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, người lao động đi làm cốt là để nhận được khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho họ để đảm bảo cho cuộc 5 Đỗ Thị Hà Trang K20 - KT1 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương sống.
Đồng thời đó cũng là khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra để trả cho người lao động vì họ đã làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp.