CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 1.1 Khái niệm, bản chất của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Khái niệm về tiền lương: Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về tiền lương: - Theo các nhà kinh tế học cổ điển (như Adam Smith, Stain, Simon, Proudhon…) quan niệm tiền lương không chỉ là sự bù đắp cho lao động mà còn là thu nhập của người nghèo và do đó không những phải đủ để duy trì trong khi lao động mà cả trong trường hợp ngừng lao động. Theo Durkheim (nhà xã hội học nổi tiếng của Pháp) coi tiền lương như quan hệ kinh tế xã hội đặc trưng cho xã hội công nghiệp hiện đại. - Theo từ điển Tiếng Việt thì “tiền lương” là “công trả định kỳ hàng tháng cho công nhân viên chức”. - Điều 1 Công ước số 95 (1949 – tổ chức lao động quốc tế) về bảo vệ tiền lương có quy định từ “tiền lương” là “sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ), hoặc bằng pháp luật quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng thuê mướn lao động bằng viết hoặc bằng miệng cho một công việc thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm”.
Theo điều 55, Bộ luật lao động đã sửa đổi bổ sung ở nước ta quy định: “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và 3 được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà Nước quy định”. Bản chất tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Tiền lương tuân theo nguyên tắc cung cầu giá cả của thị trường và pháp luật của Nhà nước.Tiền lương chính là nhân tố thúc đẩy năng suất lao động, là đòn bẩy thúc đẩy tinh thần hăng say lao động Đối với chủ doanh nghiệp tiền lương là một yếu tố của chi phí đầu vào sản xuất, còn đối với người cung ứng sức lao động tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của họ, nói cách khác tiền lương là động lực và là cuộc sống.
Một vấn đề mà các doanh nghiệp không thể quan tâm đó là mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu đo lường giá trị sức lao động thông thường trong điều kiện làm việc bình thường, yêu cầu một kỹ năng đơn giản với một khung giá các tư liệu sinh hoạt hợp lý. Đây là cái “ngưỡng” cuối cùng cho sự trả lương của tất cả các ngành các doanh nghiệp, doanh nghiệp muốn có sức lao động để hoạt động kinh doanh, ít nhất phải trả mức lương không thấp hơn mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định. Đồng thời doanh nghiệp phải tính toán giữa chi phí và doanh thu trong đó tiền lương là một chi phí rất quan trọng ảnh hưởng tới mức lao động sẽ thuê làm sao đó để tạo ra được lợi nhuận cao nhất Quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương của doanh nghiệp Quỹ tiền lương: Là toàn bộ số tiền lương trả cho số CNV của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương.
Qũy tiền lương của doanh nghiệp gồm có: - Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế và các khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp khu vực… - Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, do những nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép. 4 - Các khoản phụ cấp thường xuyên: phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp dạy nghề, phụ cấp công tác lưu động, phụ cấp cho những người làm công tác khoa học – kỹ thuật có tài năng. Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: tiền lương chính, tiền lương phụ. - Tiền lương chính: Là tiền lương chi trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính gồm: tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp.
- Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính của họ, thời gian người lao động nghỉ phép, nghỉ lễ tết, ngừng sản xuất được hưởng lương theo chế độ. Trong công tác hạch toán kế toán tiền lương chính của công nhân sản xuất được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lương của công nhân sản xuất được hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản phẩm có liên quan theo tiêu thức phân bổ thích hợp. Ngoài tiền lương phải trả cho người lao động thì doanh nghiệp còn phải trích các khoản bảo hiểm cho người lao động như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ. Việc trích các khoản bảo hiểm phải được dựa trên những quy định của nhà nước và cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là trên cơ sở của luật BHXH của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 71/2006/QH11 ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006.
Dưới đây là bảng tổng hợp về các quỹ bảo hiểm trích lập trong doanh nghiệp.1: Bảng tổng hợp về các quỹ bảo hiểm trong doanh nghiệp Các quỹ BHXH BHYT BHTN KPCĐ Là quỹ dùng để trợ Là quỹ được sử dụng Là quỹ dùng để trợ cấp Là nguồn tài trợ Khái cấp cho những người lao để trợ cấp cho những cho người lao động bị thất cho hoạt động đoàn ở niệm động có tham gia đóng người lao động có tham nghiệp có đóng BHTN. góp quỹ trong trường hợp gia đóng góp quỹ. họ bị mất khả năng lao động. Nguồn Quỹ BHXH được Quỹ BHYT được Người lao động đóng KPCĐ được trích hình trích lập theo tỷ lệ quy trích lập theo tỷ lệ quy theo một tỷ lệ nhất định lập theo tỷ lệ quy thành định trên quỹ lương đóng định trên quỹ lương trên khoản tiền công, tiền định trên tổng quỹ quỹ bảo hiểm của cán bộ, đóng bảo hiểm của cán lương của họ.
lương thực tế phải trả CNV trong doanh nghiệp bộ, CNV trong doanh Người sử dụng lao động cho toàn bộ cán bộ,. đóng theo tỷ lệ nhất định CNV của doanh trên quỹ tiền lương, tiền nghiệp. công của người tham gia BHTN. Nhà nước hỗ trợ từ ngân 6 Các quỹ BHXH BHYT BHTN KPCĐ sách theo tỷ lệ quy định trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHTN của những người tham gia BHTN.
Từ nguồn tiền sinh lãi của hoạt động đầu tư quỹ cùng các nguồn thu hợp pháp khác. Mục đích Nhằm giúp đỡ họ về Nhằm phục vụ, bảo Nhằm giúp đỡ một phần Nhằm chăm lo, mặt tinh thần và vật chất vệ và chăm sóc sức khỏe nào đó cho người lao động bảo vệ quyền lợi trong các trường hợp cho người lao động. khi gặp rủi ro bị mất việc chính đáng cho người CNV bị ốm đau, thai sản, làm bao gồm các chế độ: lao động đồng thời tai nạn, mất sức lao động, TCTN (trợ cấp hàng tháng, duy trì hoạt động của về hưu… Quỹ BHXH trợ cấp một lần), hỗ trợ học công đoàn tại doanh được trích lập theo tỷ lệ nghề, hỗ trợ tìm việc làm, nghiệp. quy định trên quỹ lương BHYT.
7 Các quỹ BHXH BHYT BHTN KPCĐ đóng bảo hiểm của cán bộ, CNV trong doanh nghiệp Mức đóng Từ ngày 01/01/2012 Theo nghị định số Theo điều 102 của luật Theo luật công quỹ BHXH được trích 62/2009/NĐ – CP ban BHXH: đoàn 1990: Hàng lập theo tỷ lệ quy định là hành ngày 27/7/2009 (có Nhà nước hỗ tợ từ ngân tháng doanh nghiệp 24%.trong đó: hiệu lực thi hành từ ngày sách bằng 1% quỹ tiền trích 2% KPCĐ trên 01/10/2009)của thủ lương, tiền công tháng đóng tổng số lương thực tế tướng chính phủ quy BHTN của những người lao phải trả CNV trong định mức trích lập động tham gia BHTN và tháng và tính hết vào BHYT từ 01/01/2010 là mỗi năm được chuyển một chi phí sản xuất kinh 4,5% trên quỹ lương lần: doanh của các đối NLĐ đóng bảo hiểm, trong đó: tượng sử dụng lao động. Tuy nhiên, theo Từ ngày 01/01/2012 quỹ 1,5% mức tiền lương, luật công đoàn sửa NSDL BHXH được trích lập tiền công tháng đóng 1% tiền lương, tiền công đổi của Quốc Hội Đ theo tỷ lệ quy định là BHYT. tháng đóng BHTN. khóa 13 ngày 20 8 Các quỹ BHXH BHYT BHTN KPCĐ 24%.trong đó: 3% trên quỹ lương 1% trên quỹ tiền lương, tháng 06 năm 2012 đóng BHYT.
tiền công tháng đóng quy định DN trích 2% BHTN của người lao động KPCĐ trên tổng số tham gia BHTN. lương tính bảo hiểm.2 Nội dung kinh tế của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Như ta đã biết, tiền lương là thù lao trả cho người lao động, trong doanh nghiệp nó đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả nhất, có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Khi lợi ích của người lao động được đảm bảo bằng các mức lương thỏa đáng, nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng giữa người sử dụng lao động và người lao động, tạo cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, tự giác hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà các nhà kinh tế gọi là “phản ứng dây chuyền tích cực của tiền lương”. Mặt khác tiền lương với tư cách là giá trị đầu vào quan trọng, là khoản mục lớn trong giá thành sản phẩm.
Đối với doanh nghiệp, tiền lương là một yếu tố của chi phí sản xuất, mục đích của nhà sản xuất là tối thiểu hóa chi phí, còn đối với người lao động tiền lương là mục đích và là lợi ích của họ. Với ý nghĩa này tiền lương không chỉ mang bản chất là chi phí mà nó trở thành phương tiện tạo ra giá trị mới, hay nói đúng hơn nó là nguồn cung ứng sự sáng tạo, sức sản xuất, năng lực của người lao động trong quá trình sản sinh ra giá trị gia tăng. Tiền lương là một phần chi phí, do vậy bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn trả mức lương thấp cho người lao động nhưng đòi hỏi chất lượng công việc phải cao. Chính vì sự mâu thuẫn giữa người chủ doanh nghiệp và người lao động như vậy luôn luôn cần có sự can thiệp của Nhà nước.