CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Các khái niệm cơ bản, các phương thức bán hàng và các phương thức thanh toán trong doanh nghiệp. Nội dung của các chỉ tiêu cơ bản liên quan đến doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nội dung các chỉ tiêu cơ bản liên quan đến doanh thu: Theo điều 3 Luật Thương mại 2005: Mua bán hàng hoá: là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”: Doanh thu: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được trong kì kế toán phát sinh từ các hoạt động SXKD thông thương của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp thu được và sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng đã trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán…) trong kì báo cáo, làm căn cứ tính kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải tuân theo nguyên tắc phù hợp.
khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó, phải theo dõi doanh thu, chi phí, lỗ lãi của từng mảng kinh doanh. SINH VIÊN: VŨ THỊ HẢI YẾN 11 LỚP: K19-KTE HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Doanh thu hoạt động tài chính là tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt dộng tài chính khác của doanh nghiệp. Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm: - Tiền lãi - Cổ tức lợi nhuận được chia; - Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn; - Thu nhập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản vốn góp liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư vào công ty con, đầu tư vốn khác; - Thu nhập về các hoạt động đầu tư khác… Điều kiện ghi nhận doanh thu: Theo Chuẩn mực kế toán số 14: Doanh thu và thu nhập khác, doanh thu bán hàng hóa, sản phẩm chỉ ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển gia phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế tù gia dịch bán hàng. - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Doanh thu của giao dịch cung cấp dịch vụ được ghi nhận kết quả của giao dịch đó khi được xác định một cách đáng tin cậy.
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kì thì doanh thu chỉ được ghi nhận trong kì theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kì đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn đồng thời 4 điều kiện sau: - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. - Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó. - Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào vào ngày lập Bảng cân đối kế toán.
- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó. SINH VIÊN: VŨ THỊ HẢI YẾN 12 LỚP: K19-KTE HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời cả 2 điều kiện sau: - Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó. - Doanh thu được xác địch tương đối chắc chắn. Nguyên tắc kế toán doanh thu: Theo điều 56 Thông tư số 133/2016/TT-BTC, quy định Nguyên tắc doanh thu như sau: Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trừ phần vốn góp thêm của các cổ đông.
Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. Doanh thu và chi phí tạo ra khoản doanh thu đó phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì kế toán phải căn cứ vào bản chất giao dịch để phán ánh một cách trung thực, hợp lý: - Một hợp đồng kinh tế có thể bao gồm nhiều giao dịch. Kế toán phải nhận biết các giao dịch để áp dụng các điều kiện ghi nhận doanh thu phù hợp.
- Doanh thu phải được ghi nhận phù hợp với bản chất hơn là hình thức hoặc tên gọi của giao dịch và phải được phân bổ theo nghĩa vụ cung ứng hàng hóa dịch vụ. Doanh thu không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba, ví dụ: - Các loại thuế gián thu (thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế TTĐB, thuế BVMT) phải nộp; - Số tiền người bán hàng đại lý thu hộ bên chủ hàng do bán hàng đại lý; - Các khoản phụ thu và phí phụ thu thêm ngoài giá bán đơn vị không được hưởng; - Các trường hợp khác. Doanh thu được ghi nhận chỉ bao gồm doanh thu của kì báo cáo. Các khoản phản ánh doanh thu không có số dư, cuối kỳ kế toán phải kết chuyển doanh thu để xác định kết quả king doanh.
SINH VIÊN: VŨ THỊ HẢI YẾN 13 LỚP: K19-KTE HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nội dung các chỉ tiêu cơ bản liên quan đến chi phí: Theo Chuẩn mực Kế toán số 01, chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác. Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,. Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị. Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: chi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng,.
Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa. Nguyên tắc kế toán chi phí: Theo điều 59 Thông tư số 133/2016/TT-BTC quy định về nguyên tắc kế toán chi phí, cụ thể như sau: Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa. Việc ghi nhận chi phí ngay cả khi chưa đến kì hạn thanh toán nhưng chưa có khả năng chắc chắn sẽ phát sinh nhằm đảm bảo nguyên tắc thận trọng và bảo toàn vốn. Chi phí và khoản doanh thu do nó tạo ra phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp.
Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì kế toán phải căn cứ vào bản chất của giao dịch để phản ánh một cách trung thực, hợp lý. SINH VIÊN: VŨ THỊ HẢI YẾN 14 LỚP: K19-KTE HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Kế toán phải theo dõi chi tiết các khoản chi phí phát sinh theo yếu tố, tiền lương, NVL, chi phí mua ngoài, khấu hao TSCĐ,… Các khoản chi phí không được coi là chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã hạch toán đúng theo Chế độ kế toán thì không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế TNDN để làm tăng số thuế TNDN. Các tài khoản phản ánh chi phí không có số dư, cuối kỳ kế toán phải kết chuyển tất cả các khoản chi phí phát sinh trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh. Các phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho: Phương pháp bình quân gia quyền Giá trị từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kì và giá từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ.
Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kì hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình doanh nghiệp. - Giá đơn vị bình quân gia quyền cả kì: Giá đơn vị bình quân cả kì của hàng I = (Giá thực tế hàng I tồn đầu kì + Giá thực tế hàng I nhập kho trong kì) / ( Lượng thực tế hàng 1 tồn đầu kì + Lượng thực tế hàng I nhập kho trong kỳ) - Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: Giá đơn vị bình quân sau lần nhập j của hàng I = giá thực tế tồn kho sau lần nhập j của hàng I / Lượng thực tế tồn kho sau lần nhập j của hàng I Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO): Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kì hoặc gần đầu kì. Giá thị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho. Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp giảm phát.