phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luận bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về kế toán nghiệp vụ huy động TGTK tại NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng về kế toán nghiệp vụ huy động TGTK tại ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – CN Nam Sài Gòn – PGD Mỹ Toàn. Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện kế toán nghiệp vụ huy động TGTK tại ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – CN Nam Sài Gòn – PGD Mỹ Toàn. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về tiền gửi tiết kiệm 1. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm Ở khoản 1 điều 5 Thông tƣ 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc quy định về TGTK: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền đƣợc ngƣời gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc đƣợc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng”. Hay nói cách khác, đây là những khoản tiền gửi mà NHTM huy động từ những cá nhân có nguồn tiền nhàn rỗi trong thời gian nhất định, ngƣời gửi với mục đích an toàn và sinh lời. Phạm vi và đối tƣợng của quy định này áp dụng là giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, tổ chức tín dụng và khách hàng gửi tiền.
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tƣ 14/2017/TT-NHNN quy định về số tiền lãi ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ban hành: “Là khoản tiền tổ chức tín dụng phải trả cho khách hàng gửi tiền hoặc khách hàng nhận cấp tín dụng phải trả cho tổ chức tín dụng về việc sử dụng khoản tiền đã nhận”. Phân loại Các NHTM đều có chung hai loại tiền gửi tiết kiệm đặc trƣng đó là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Phần lớn tiền gửi không kỳ hạn là những khách hàng có nhu cầu sử dụng các khoản tiền một cách thƣờng xuyên, khách hàng có thể gửi và rút tiền linh hoạt bất cứ lúc nào khi có nhu cầu sử dụng. Ngân hàng cung cấp sản phẩm này để khách hàng có thể tiết kiệm dần những khoản tiền nhỏ trong khi vẫn thu đƣợc lãi nhằm trang trải các khoản chi phí cụ thể trong tƣơng lai.
Do khách hàng chủ động đƣợc việc rút tiền, tính chất không ổn định nên lãi suất gửi thấp hơn so với tiền gửi có kỳ hạn. 2 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chính là một khoản tiền nhàn rỗi hoặc khoản tiền đƣợc khách hàng đầu tƣ vào ngân hàng với kỳ hạn cụ thể. Đây là sản phẩm tiền gửi chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn đƣợc thỏa thuận nhất định với ngân hàng nhận tiền gửi. Kỳ hạn gửi rất linh hoạt, khách hàng có thể lựa chọn theo tuần, theo tháng hoặc theo năm tùy vào nhu cầu.
Mức lãi suất mà khách hàng đƣợc hƣởng sẽ đƣợc tính từ thời điểm mở sổ tiết kiệm và kéo dài đến cuối kỳ hạn. Trong trƣờng hợp đến ngày tất toán mà khách hàng không đến nhận thì ngân hàng sẽ chủ động quay vòng cả vốn và lãi thêm một kỳ hạn nữa, mức lãi suất lúc này sẽ đƣợc áp dụng bằng với mức lãi suất hiện hành bấy giờ. Mục đích chính mà khách hàng hƣớng đến sản phẩm này là an toàn và hƣởng lãi suất cao hơn so với không kỳ hạn. Kỳ hạn gửi tiền càng lâu thì lãi suất nhận đƣợc càng cao.
Nếu cần khách hàng vẫn có thể rút tiền trƣớc hạn và nhận mức lãi suất không kỳ hạn. Phƣơng pháp tính lãi Một số yếu tố tính lãi Theo Điểm a khoản 1 Điều 5 của Thông tƣ 14/2017/TT-NHNN: Thời hạn tính lãi sẽ đƣợc xác định từ ngày tiếp theo ngày giải ngân khoản cấp tín dụng hoặc ngày tiếp theo ngày nhận tiền gửi đến hết ngày thanh toán hết khoản cấp tín dụng, khoản tiền gửi và thời điểm xác định số dƣ để tính lãi là đầu mỗi ngày trong thời hạn tính lãi. Số dƣ thực tế là số tiền gốc đƣợc duy trì trong thời hạn tính lãi của khoản tiền gửi. Số ngày duy trì số dƣ thực tế là số ngày mà số dƣ thực tế đầu mỗi ngày không đổi.
Lãi suất tính lãi: lãi suất hàng năm trên cơ sở một năm có 365 ngày do ngân hàng quy định tại từng thời điểm trong suốt kỳ hạn của khoản tiền gửi và đƣợc tính theo tỷ lệ %/năm. Tổng lãi suất tiền gửi sẽ tuân theo các quy định của ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam tại từng thời điểm. 3 Công thức tính lãi Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Với tính chất không ổn định của nguồn vốn huy động nên loại tiền gửi này có mức lãi suất rất thấp và tiền lãi sẽ đƣợc tính theo phƣơng pháp tích số. Công thức tính lãi nhƣ sau: Số tiền lãi của một ngày Số dƣ thực tế x Lãi suất Số tiền lãi = 365 Khoản tiền có thời gian duy trì số dƣ thực tế nhiều hơn một ngày trong kỳ tính lãi Σ(Số dƣ thực tế x Số ngày duy trì số dƣ thực tế x Lãi suất) Số tiền lãi = 365 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Với loại tiền gửi này, số tiền gửi sẽ đƣợc ngân hàng quy định một mức kỳ hạn đi kèm với mức lãi suất cam kết.
Có nhiều kỳ hạn khác nhau nhƣ gửi tiết kiệm hàng tháng, quý hoặc năm. Khách hàng chỉ đƣợc rút vốn gốc khi đến kỳ hạn đã đƣợc cam kết thỏa thuận. Công thức: Σ(Số dƣ thực tế x Số ngày duy trì số dƣ thực tế x Lãi suất tính lãi) Số tiền lãi = 365 Do sản phẩm có tính chất ổn định trong một thời gian và lãi suất khá cao nên ngân hàng chỉ tính dựa trên số dƣ ban đầu khi mở sổ tiết kiệm. Ngoài ra, còn một lƣu ý về thanh toán lãi: tiền lãi sẽ đƣợc thanh toán vào ngày đáo hạn, trong trƣờng hợp 4 ngày đáo hạn trùng với ngày cuối tuần hoặc ngày lễ theo quy định pháp luật thì việc trả cả gốc lẫn lãi đƣợc thực hiện vào ngày tiếp theo.
Quy trình nghiệp vụ tiền gửi tiết kiệm Quy trình giao dịch của có 2 mô hình: Mô hình giao dịch thông thƣờng Tại mô hình này GDV chỉ thực hiện tiếp nhận nhu cầu của khách hàng và chuyển nhu cầu cho kế toán xử lý. Kiểm soát viên cũng chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát chứng từ và hạch toán vào sổ sách kế toán theo quy định, tất cả các giao dịch liên quan đến tiền mặt khách hàng phải nộp tại quỹ chính của ngân hàng. Ngƣời thu chi trực tiếp sẽ là thủ quỹ. Việc thiết lập quy trình tiền gửi ở mỗi ngân hàng có thể khác nhau, nhƣng các quy trình đều phải đạt đƣợc yêu cầu kiểm soát.
Tại mô hình này tồn tại một nhƣợc điểm rất lớn là tốn nhiều thời gian giao dịch và chi phí giao dịch tăng vì phải trải qua nhiều cửa làm giảm hiệu quả hoạt động và thái độ không hài lòng của khách hàng tăng lên.1 – Sơ đồ quy trình giao dịch thông thƣờng Nguồn: Tổng hợp từ tác giả Mô hình giao dịch một cửa Hình 1.2 – Sơ đồ quy trình giao dịch một cửa Nguồn: Tổng hợp từ tác giả Vì quy trình giao dịch truyền thống còn nhiều hạn chế làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ thì ngân hàng Nhà nƣớc đã đƣa ra hình thức giao dịch một cửa áp dụng đối với các tổ chức tín dụng. Đối với quy trình giao dịch “một cửa”, khách hàng khi đến giao dịch chỉ giao dịch với một nhân viên ngân hàng nhƣng vẫn có thể giải quyết toàn bộ các nhu cầu của mình. Ngân hàng sẽ chuyển giao trách nhiệm cho bộ phận giao dịch viên vừa làm thu chi với hạn mức đƣợc quy định tại ngân hàng kiêm làm kế toán viên phù hợp với năng lực của mình. Các khoản thu chi nhỏ sẽ không cần giao cho bộ phận ngân quỹ mà các GDV đƣợc trực tiếp làm.2), quy trình đƣợc thực hiện nhƣ sau: (1) Mỗi ngày vào đầu giờ giao dịch, bộ phận ngân quỹ thực hiện giao quỹ cho các GDV tại quầy.
6 (2) Khách hàng khi mở sổ tiết kiệm, GDV làm các thủ tục nhập dữ liệu thông tin và mã khách hàng để xuất ra hồ sơ khách hàng trên hệ thống của ngân hàng. Đồng thời, GDV xuất ra chứng từ nộp/rút và kiểm tra các chứng từ xem đã đúng với thông tin trên hệ thống hay chƣa. Nếu các chứng từ khớp với thông tin trên hệ thống, GDV sẽ thực hiện nghiệp vụ. Nếu không khớp với thông tin trên hệ thống, GDV sẽ tiến hành sửa đổi hoặc từ chối giao dịch tiếp do khách hàng không đƣa thông tin chính xác.
(3) Thực hiện thu/chi, trả chứng từ giao dịch, giấy tờ tùy thân cho khách hàng. (4) Kiểm soát và duyệt giao dịch Khi kiểm soát viên kiểm soát chi tiết giao dịch do GDV yêu cầu phê duyệt. Khi nhận đƣợc chứng từ, kiểm soát viên sẽ rà soát thêm một lần nữa. Nếu hợp lệ kiểm soát viên sẽ ký duyệt giao dịch và chuyển lại cho GDV để trao lại cho khách hàng.
Ngƣợc lại, nếu không hợp lệ, kiểm soát viên sẽ trả lại chứng từ cho GDV và kèm lý do. (5) Sau khi nhận đƣợc các chứng từ và sổ, GDV thực hiện việc thu chi, ghi sổ rồi giao cho khách hàng và không quên giao kèm theo đó là phiếu thu/chi. Vào cuối ngày, GDV hoàn trả tiền quỹ về Bộ phận ngân quỹ và in các báo cáo giao dịch trong ngày để kiểm tra đối chiếu giữa chứng từ giao dịch và báo cáo, cuối cùng sẽ chuyển cho kiểm soát viên để kiểm soát cuối ngày. Còn đối với giao dịch thông thƣờng, điểm khác biệt so với giao dịch một cửa đó là ngƣời thu chi trực tiếp là thủ quỹ.
Khi kiểm soát viên kiểm tra xong, sẽ giao chứng từ cho thủ quỹ để kiểm đếm thu chi tiền mặt rồi giao phiếu thu cho khách hàng giữ 1 liên và 1 liên giao cho GDV. Còn sổ tiết kiệm GDV sẽ ghi rồi giao cho khách hàng. Do đó, tùy thuộc vào cách tổ chức của mỗi ngân hàng, quy trình tiền gửi có thể khác nhau ở mỗi ngân hàng, nhƣng nhìn chung, quy trình tiền gửi phải đƣợc thực 7 hiện kiểm soát đƣợc tất cả các giao dịch phát sinh, cho dù chúng đƣợc ghi lại thủ công hay thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử. Kế toán nghiệp vụ tiền gửi tiết kiệm 1.