Chương 1: Lý luận chung về hoàn thiện mô hình kế toán giao dịch một cửa tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoàn thiện mô hình kế toán giao dịch một cửa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín Chương 3: Giải pháp hoàn thiện Mô hình kế toán giao dịch một cửa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN THIỆN MÔ HÌNH KẾ TOÁN GIAO DỊCH MỘT CỬA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CÁC MÔ HÌNH KẾ TOÁN GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Kế toán giao dịch và vai trò của kế toán giao dịch tại ngân hàng thƣơng mại Khái niệm chung về kế toán giao dịch Kế toán giao dịch là bộ phận quan trọng trong toàn b ộ quy trình k ế toán tại NHTM. Nó được hiểu là kênh phân phối dịch vụ giữa ngân hàng và khách hàng; là các bộ phâ ̣n giao dich ̣ trực tiế p giữa n gân hàng và khách hàng, nơi tiế p nhâ ̣n và đáp ứng các yêu cầ u của khách hàng, kiể m soát và đăng nhâ ̣p các thông tin c ần thiết của khách hàng vào hê ̣ th ống, nhằm mục đích mang lại những dịch vụ hoàn hảo cho khách hàng, kinh doanh có hiệu quả cao hơn cho ngân hàng.
Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giá cả và gây sự chú ý và thu hút khách hàng. Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng có một trong những đặc tính là nhanh tàn lụi, không thể lưu trữ, nên việc xây dựng các kênh phân phối (mạng lưới bán hàng) trở thành một vấn đề hết sức trọng yếu trong kinh doanh Ngân hàng. Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt chính xác, kịp thời nhu cầu của khách hàng.
Qua đó, Ngân hàng chủ động trong việc cải tiến, hoàn thiện sản phẩm dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Kênh phân phối bao gồm: kênh phân phối truyền thống và kênh phân phối hiện đại. Kênh phân phối truyền thống bao gồm hệ thống các chi nhánh và các ngân hàng đại lý. Kênh phân phối truyền thống cung ứng dịch vụ tại chi nhánh chính là KTGD trực tiếp giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng.
Như vậy, KTGD là một bộ phận cấu thành kênh phân phối truyền thống. Vai trò của kế toán giao dịch Một là, giao dịch trực tiếp với khách hàng. Tại ngân hàng được bố trí các quầy giao dịch nhằm phục vụ cho các hoạt động giao dịch với khách hàng. Khi khách hàng có nhu cầu giao dịch thì bộ phận kế tốn giao dịch sẽ là người tiếp nhận và xử lý các yêu cầu của khách hàng.
Hai là, KTGD cung cấp thông tin đầu vào cho các chương trình nghiệp vụ khác. Nhập thông tin khách hàng, ghi sổ và nhập vào máy các nghiệp vụ phát sinh tại quầy 4 giao dịch, bộ phận KTGD sẽ là kênh thông tin đầu vào quan trọng phục vụ cho việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả của các nhà quản trị, phục vụ cho các bộ phận có liên quan. Nếu các dữ liệu đầu vào không chính xác, không được kiểm soát chặt chẽ thì sẽ gây khó khăn cho việc chuyển sang các chương trình nghiệp vụ khác như chuyển tiền, in báo cáo… Do đó, các dữ liệu đầu vào đòi hỏi phải có tính chính xác cao. Ba là, tạo hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng.
Tiếp nhận thông tin, yêu cầu của khách hàng để từ đó đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Thông qua thái độ phục vụ của các kế toán giao dịch và tốc độ xử lý của họ làm rút ngắn thời gian giao dịch, giải phóng khách hàng nhanh chóng, bộ phận kế toán góp phần tạo ấn tượng cho khách hàng về một phong cách làm việc chuyên nghiệp của ngân hàng. Từ đó duy trì, thu hút khách hàng đến với ngân hàng để gửi tiền, mở tài khoản. Qua đó, kế toán giao dịch góp phần quan trọng trong hoạt động huy động vốn của NHTM, làm tăng nguồn vốn cho ngân hàng và tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Mô hình kế toán giao dịch tại ngân hàng thƣơng mại Tùy theo chức năng nhiệm vụ, mô hình hoạt động, các TCTD có mô hình bố trí bộ máy kế toán khác nhau: - Bố trí theo mảng nghiệp vụ, khách hàng giao dịch “nhiều cửa” - Bố trí theo mô hình giao dịch “một cửa” 1. Mô hình kế toán giao dịch nhiều cửa Là mô hình tổ chức truyền thống của các ngân hàng trong điều kiện trình độ ứng dụng công nghệ trong công tác kế toán còn thấp. Theo mô hình này kế toán chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát chứng từ và hạch toán vào sổ sách kế toán theo quy định, tất cả các giao dịch liên quan đến tiền mặt khách hàng phải nộp (nhận) từ quỹ chính của ngân hàng. Do vậy năng suất lao động sẽ không cao, khách hàng phải trải qua nhiều khâu, cửa để hoàn thành giao dịch của mình.
Cụ thể, khi khách hàng giao dịch với ngân hàng thì phải nộp chứng từ kế toán cho đúng thanh toán viên giữ tài khoản của mình, và mặc dù chỉ thực hiện một giao dịch thường thì khách hàng vẫn phải trải qua nhiều cửa: thanh toán viên, thủ quỹ, cán bộ nghiệp vụ có liên quan. 5 7 Khách hàng Khách hàng 1 4 8 Giao dịch Giao dịch viên ghi có viên ghi nợ 5 2 3 Quỹ chính 6 Kiểm soát Sơ đồ 1.1: Quy trình giao dịch trong mô hình kế toán giao dịch nhiều cửa Chú thích: (1) Khách hàng yêu cầu giao dịch (2) GDV chuyển chứng từ cho bộ phận kiểm soát (3) Kiểm soát chuyển chứng từ sau khi kiểm soát cho GDV (4) GDV ghi nợ chuyển chứng từ ghi có cho GDV ghi có (5) Trả lại chứng từ cho GDV ghi nợ (6) Kiểm soát trả chứng từ cho quỹ chính trong trường hợp trả tiền mặt (7) Khách hàng tới bộ phận quỹ để nộp tiền (8) Bộ phận quỹ trả (thu) tiền cho khách hàng 1. Mô hình kế toán giao dịch một cửa Một số khái niệm: Giao dịch một cửa: là phương thức tổ chức cung ứng dịch vụ của tổ chức tín dụng cho khách hàng, trong đó khách hàng chỉ cần giao dịch với một giao dịch viên của tổ chức tín dụng và nhận kết quả từ giao dịch viên đó. Giao dịch viên (Teller): là cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng trực tiếp giao dịch với khách hàng, chịu trách nhiệm tiếp nhận để giải quyết các nhu cầu của khách hàng theo thẩm quyền trong việc lập, kiểm soát và phê duyệt chứng từ giao dịch.
6 Kiểm soát viên: là cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng được phân cấp thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và phê duyệt các giao dịch trong phạm vi trách nhiệm được phân công. Hạn mức giao dịch: là giá trị tối đa của một giao dịch mà giao dịch viên được phép thực hiện không cần có sự phê duyệt của kiểm soát viên. Mỗi loại giao dịch có các hạn mức khác nhau. Hạn mức tồn quỹ: là số dư tiền mặt tối đa mà giao dịch viên được phép giữ tại bất kỳ thời điểm nào trong ngày giao dịch.
Bộ phận quỹ: là bộ phận ngân quỹ của tổ chức tín dụng có trách nhiệm tổ chức thu, chi tiền mặt, giấy tờ có giá; giao, nhận các tài sản khác đối với các giao dịch viên và với khách hàng (đối với các giao dịch tiền mặt vượt hạn mức của giao dịch viên). Quầy giao dịch: là nơi giao dịch viên thực hiện việc giao dịch với khách hàng. Phạm vi và điều kiện áp dụng Phạm vi - Áp dụng cho các chi nhánh triển khai hệ thống ứng dụng ngân hàng bán lẻ. Đó là khái niệm chỉ những hệ thống NH lớn, nhiều chi nhánh mà đối tượng phục vụ thường là các KH cá nhân, đơn vị riêng lẻ và tập trung vào các dịch vụ là tiết kiệm, tạo tài khoản giao dịch, thanh toán, thế chấp, cho vay cá nhân, các loại thẻ tín dụng,.
- Áp dụng cho mô hình xử lý nghiệp vụ theo 2 khu vực: trước quầy và sau quầy. Bộ phận trước quầy: thực hiện giao dịch trực tiếp với khách hàng, xử lý các giao dịch liên quan đến khách hàng để giải phóng khách hàng nhanh. Bộ phận sau quầy: xử lý các nghiệp vụ, phần hành công việc không liên quan trực tiếp đến tài khoản của khách hàng, nhận toàn bộ các chứng từ liên quan đến công việc nội bộ và thực hiện công việc nội bộ của kế toán ngân hàng. Điều kiện áp dụng - Về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật Quầy GD phải được bố trí đảm bảo an toàn tài sản và thuận tiện cho việc giám sát hoạt động thu - chi tiền của GDV.
Có nội quy và thông báo công khai cho KH. Hệ thống trang thiết bị được kết nối hoàn chỉnh thành mạng để cập nhật, xử lý, kiểm tra, kiểm soát, khai thác và lưu trữ các dữ liệu an toàn, chính xác, nhanh chóng và thuận tiện. Có hệ thống máy tính và trung tâm lưu giữ số liệu dự phòng. Có chương trình giao dịch thích hợp xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ các quy định hiện hành đối 7 với từng loại hình nghiệp vụ của tổ chức tín dụng, đồng thời tương thích và phù hợp với các chương trình phần mềm khác.
Có biện pháp bảo mật để đảm bảo an toàn và bí mật các dữ liệu trong chương trình, mã khóa truy cập hệ thống và chữ ký điện tử. Hệ thống kiểm soát chung và hệ thống kiểm soát thông qua mạng máy tính phải có đủ khả năng để kiểm soát các thao tác nghiệp vụ trong giao dịch một cửa, bảo đảm thực hiện đúng quy định, chống lợi dụng tham ô, chiếm đoạt tài sản. - Điều kiện về hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin Hệ thống ứng dụng được cài đặt phần mềm ứng dụng thống nhất của hệ thống NH, phù hợp với mô hình KTGD một cửa đảm bảo an ninh xử lý giao dịch hàng ngày. Quản lý GDV và quản lý tiến trình giao dịch một cửa: Chỉ GDV và kiểm soát viên mới được phép cấp USER và mật khẩu truy cập hệ thống.
- Về quy chế, quy trình nghiệp vụ và nội quy trong giao dịch một cửa Các tổ chức tín dụng phải xây dựng quy chế, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ và nội quy trong giao dịch một cửa.