LỜI MỞ ĐẦU I. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong thời đại toàn cầu hóa và môi trường kinh doanh cạnh tranh gia tăng như hiện nay, việc xây dựng chiến lược để tồn tại và phát triển đối với các tổ chức đã là một vấn đề khó khăn. Và còn khó khăn hơn để biến chiến lược thành hành động và đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức để khẳng định con đường mà tổ chức đang đi không bị chệch hướng. Trước đây, hệ thống đo lường truyền thống sử dụng trong đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức chủ yếu là các thông tin tài chính; hệ thống này đang trở nên lỗi thời do các thước đo tài chính chỉ đề cập đến các dữ liệu quá khứ, không đủ để đánh giá những giá trị sẽ được tạo ra trong tương lai thông qua việc đầu tư vào khách hàng, nhà cung cấp, nhân lực, quy trình nội bộ, công nghệ và đổi mới – những giá trị không được đo lường thông qua hệ thống kế toán tài chính truyền thống.
Hệ thống Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) được phát triển bởi Robert S. Kaplan và David P. Norton từ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 giúp các tổ chức chuyển tầm nhìn và chiến lược thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua 4 phương diện: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển để đo lường thành quả hoạt động của tổ chức. Trước đây, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chưa có các tiêu chuẩn đánh giá việc thực thi chiến lược cụ thể mà chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu tài chính và báo cáo tổng kết từ các phòng ban để đánh giá hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Phương pháp đánh giá này chưa toàn diện và còn mang tính chủ quan, chưa gắn hoạt động kinh doanh của ngân hàng với chiến lược ngân hàng đặt ra. Trước nhu cầu đặt ra cho hoạt động quản trị điều hành và thực thi chiến lược của BIDV trong môi trường cạnh tranh ngày một tăng, trước những ưu việt của hệ thống đo lường hoạt động toàn diện mà Thẻ điểm cân bằng mang lại, BIDV nhận thức được vai trò quan trọng của Thẻ điểm cân bằng trong hoạt động quản trị và đang trong quá trình xây dựng và triển khai áp dụng Thẻ điểm cân bằng nhằm tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng. 2 Trong quá trình xây dựng và triển khai Thẻ điểm cân bằng như một công cụ đo lường và quản lý chiến lược kinh doanh và kết quả kinh doanh của ngân hàng., BIDV đã và đang gặp phải một số khó khăn như sau: - Chậm trễ và chưa hình thành phương pháp để đồng thuận trong việc ra quyết định liên quan đến chiến lược. - Chưa quan tâm đúng mức về các phương diện phi tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh và thực hiện chiến lược.
- Rất nhiều mục tiêu định tính được đưa ra nhưng không rõ cách thức đo lường để đánh giá việc thực hiện chiến lược. - Chưa có phương pháp, quy trình chuẩn để quản trị các chương trình giải pháp chiến lược - Chương trình khai thác dữ liệu chưa toàn diện, thiếu thân thiện và khó tích hợp các yếu tố bên ngoài - Cơ chế động lực chưa được xây dựng hoàn thiện - Chưa thực hiện truyền thông về chiến lược đến toàn bộ hệ thống - Thiếu khung pháp lý về quản trị điều hành tại ngân hàng thương mại - Thiếu kinh nghiệm áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại ngân hàng thương mại Việt Nam - Hệ thống công nghệ ứng dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam còn thiếu đồng bộ, thiếu liên kết Như vậy, những điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại BIDV vừa thiếu vừa chưa hoàn thiện gây ra sự thiếu hiệu quả trong việc áp dụng Thẻ điểm cân bằng. Do đó, việc thiết lập và hoàn thiện các điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại BIDV là nhu cầu cấp thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế về việc nghiên cứu và hoàn thiện các điều kiện để triển khai hiệu quả Thẻ điểm cân bằng tại BIDV, tôi đã lựa chọn đề tài “Điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV” để nghiên cứu.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại NHTM. - Mô tả và phân tích điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại BIDV. - Đề xuất hệ thống giải pháp để thiết lập, hoàn thiện các điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại BIDV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu: Điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại NHTM 2. Phạm vi nghiên cứu: Các điều kiện áp dụng BSC tại BIDV từ năm 2010-nay. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trên cơ sở duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong Luận văn gồm: - Thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích: Số liệu tình hình hoạt động thực tiễn của BIDV sẽ được thống kê, phân tổ để làm rõ thực trạng hoạt động, nhu cầu và các điều kiện để áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại Ngân hàng. - Phương pháp nghiên cứu tình huống: nghiên cứu tình huống về điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại BIDV, từ đó phân tích sâu và làm rõ nét.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia, các nhà quản trị, nhà nghiên cứu về áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại và BIDV. Các giải pháp nêu tại mục III được một phần đúc kết từ ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI: Trên cơ sở nghiên cứu về trường hợp điển hình, tác giả hy vọng hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết và điều kiện áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. 4 CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BALANCED SCORECARD – BSC) CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái quát về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: - Ở Anh: Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trực tiếp giao dịch với công chúng để huy động các khoản tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho công chúng - Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. - Ở Ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Cũng tại Luật này quy định, “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; 5 c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.” “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.” Tóm lại, NHTM là tổ chức tài chính trung gian giữa người thừa vốn và người thiếu vốn; giữa nhà nước và người dân, doanh nghiệp và giữa các NHTM với nhau. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa NHTM (tùy thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ) nhưng khi đi sâu phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa, ta nhận thấy rằng: tất cả các NHTM đều có chung một tính chất đó là nhận tiền ký thác – tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của ngân hàng đó.
Đặc điểm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để cho vay phát triển kinh tế. Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau: - Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế. - Ngân hàng thương mại hoạt động mang tính chất kinh doanh.
6 - Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Những đặc điểm cơ bản của Ngân hàng thương mại: Thứ nhất, NHTM là một doanh nghiệp đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Các hoạt động của NHTM nhằm thúc đẩy và lưu chuyển các dòng tiền tệ phục vụ cho việc giao dịch, thanh toán phát sinh hàng ngày trong nền kinh tế, đồng thời thông qua các hoạt động huy động vốn và cho vay các NHTM có khả năng tạo tiền từ các nghiệp vụ kinh doanh của mình thông qua các công cụ lãi suất, tỷ giá.