Đặt vấn đề Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của Nhà nước là một vấn đề hết sức quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Từ những năm 1990 nước ta áp dụng thuế có vai trò đối với đơn vị sản xuất kinh doanh để tạo và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, phục vụ yêu cầu kiểm kê, quản lý, hướng dẫn cho mọi cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động có lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng thuế đã bộc lộ những nhược điểm về mức thuế suất, hiện tượng thuế chồng thuế, ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh và nguồn thu của ngân sách Nhà nước. Tháng 5/1997 Quốc hội chính thức ban hành luật thuế giá trị gia tăng (GTGT), áp dụng từ ngày 1/1/1999 góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế vào ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT ra đời từ rất lâu và áp dụng rộng rãi trên thế giới. Nhưng đối với nước ta đây là sắc thuế mới, còn non trẻ so với sự vận động của cơ chế kinh tế hiện nay nên đây cũng chính là khu vực mà NSNN bị thất thu lớn nhất. Do vậy, cần có nhiều sự đóng góp hoàn thiện để đưa ra một chính sách thuế thống nhất và đúng đắn đảm bảo sự lành mạnh về cạnh tranh, góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, đưa nền kinh tế đi lên bước phát triển cao. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng trả khi sử dụng sản phẩm đó.
Mặc dù người tiêu dùng mới chính là người chi trả thuế giá trị gia tăng, nhưng người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước lại là đơn vị sản xuất, kinh doanh. 1 Là doanh nghiệp xây dựng công trình, trong môi trường kinh doanh đầy khốc liệt như hiện nay, công ty TNHH thương mại và xây dựng Tuấn Minh cũng coi vấn đề thuế GTGT là vấn đề quan trọng hàng đầu. Là công ty xây dựng nên thuế GTGT ngành xây dựng là khoản thuế phải nộp trên phần giá trị gia tăng thêm của các sản phẩm, hàng hoá, công trình trong xây dựng. Công ty lựa chọn phương pháp cách tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ.
Từ ngày 01/02/2022, công trình, hạng mục thực hiện có thể áp dụng mức thuế suất GTGT là 8%, thấp hơn trước đây 2%. Việc giảm thuế GTGT trong việc xác định tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình. Đối với các công trình đã hoàn thành, nghiệm thu trước ngày 01/02/2022 nhưng xuất hoá đơn trong khoản thời gian miễn giảm vẫn giữ nguyên thuế suất thuế GTGT là 10%. Luật thuế GTGT đang trong quá trình hoàn thiện, thường xuyên có sự thay đổi, bên cạnh đó là những áp lực về khối lượng công việc nên không phải các kế toán viên đều cập nhật và có sự am hiểu về phần hành kế toán này nên vẫn tồn tại những sai sót khó tránh khỏi khi thực hiện công tác kế toán thuế GTGT như quên không nhập hoá đơn GTGT, ghi sai số tiền,.
Qua quá trình tham gia hoạt động thực tập ở công ty TNHH thương mại và xây dựng Tuấn Minh, xuất phát từ vai trò vị trí, tầm quan trọng của kế toán thuế, em thấy công ty cần có các biện pháp hợp lý hơn để nâng cao thực trạng công tác kế toán thuế trong thời gian tới. Vì vậy, em quyết định chọn đề tài: “Kế toán thuế giá trị gia tăng tại công ty TNHH thương mại và xây dựng Tuấn Minh” làm đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Phân tích thực trạng kế toán thuế giá trị gia tăng (GTGT) của công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Tuấn Minh, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của kế toán GTGT của Công ty, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán thuế GTGT cho Công ty.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kế toán thuế GTGT trong doanh nghiệp. - Phân tích thực trạng kế toán thuế GTGT của công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Tuấn Minh. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán thuế GTGT cho Công ty. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Kế toán thuế giá trị gia tăng trong doanh nghiệp 1. Phạm vi nghiên cứu 1. Nội dung Nghiên cứu kế toán thuế giá trị gia tăng tại công ty TNHH thương mại và xây dựng Tuấn Minh 1. Phạm vi không gian Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Tuấn Minh.
Địa chỉ: Tổ dân phố Ngọa Long 2, Phường Minh Khai, Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Phạm vi thời gian Dựa trên số liệu trong BCTC năm 2019-2021 để nghiên cứu, phân tích một số chỉ tiêu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Phân tích số liệu, hoá đơn, chứng từ về kế toán thuế giá trị gia tăng tại quý 1 năm 2022. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan tài liệu 2. Khái quát về thuế GTGT *) Khái niệm “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng”. Nếu trong quá trình SXKD không tạo ra giá trị tăng thêm cho sản phẩm thì tổ chức, doanh nghiệp không phải nộp thuế GTGT. Thuế GTGT được đánh giá là một sắc thuế tiên tiến của Nhà nước ta, đã khắc phục được hiện tượng thuế chồng thuế của thuế doanh thu.
*) Đặc điểm của thuế GTGT Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, không phải là một loại chi phí trong doanh nghiệp. Người mua hàng hóa dịch vụ (HHDV) là người phải trả khoản thuế này thông qua giá bán của HHDV. Người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào Ngân sách Nhà nước (NSNN) mà nộp thuế thông qua giá thanh toán HHDV cho người bán, trong giá thanh toán đã bao gồm khoản thuế GTGT. Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp đã được người bán trả vào NSNN.
(Nguồn: Luật thuế GTGT) Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập. Hai đối tượng khác nhau đều phải trả một lượng thuế GTGT giống nhau nếu dùng cùng một loại HHDV. 4 Như vậy, người có thu nhập càng cao thì tỉ lệ chịu thuế GTGT khi tiêu dùng HHDV so với thu nhập càng thấp và ngược lại. Thuế giá trị gia tăng có tính trung lập.
Đặc điểm này thể hiện thuế GTGT không phải là một yếu tố chi phí mà chỉ là một yếu tố cấu thành trong giá cả HHDV, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của HHDV. Nó không phụ thuộc vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn. Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng HHDV đó, vì vậy thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn tạo ra giá trị tăng thêm cho HHDV.
Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. *) Đối tượng chịu thuế GTGT, đối tượng không chịu thuế GTGT Theo quy định tại điều 2 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT và Nghị định 209/2013 NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành: “Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), ngoại trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT”. Đối tượng không chịu thuế GTGT được bổ sung và nêu rõ tại Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC. Các đối tượng không chịu thuế được chia thành 26 nhóm HHDV và thường có tính chất sau: • Là những loại HHDV mang tính chất thiết yếu.
• Thuộc các hoạt động ưu đãi vì mục đích xã hội, nhân đạo. • Của một số ngành cần khuyến khích phát triển. • Nhập khẩu nhưng không tiêu dùng tại Việt Nam. • Khó xác định được giá trị tăng thêm.
5 • Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT. *) Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất. Thuế GTGT = Giá tính thuế GTGT x Thuế suất thuế GTGT Trong đó: Giá tính thuế GTGT được xác định tùy theo từng loại HHDV, cụ thể một số loại HHDV phổ biến như sau: - Đối với HHDV sản xuất trong nước bán ra: Giá tính thuế là giá chưa có thuế ghi trên hóa đơn. - Đối với HHDV chịu thuế tiêu thụ đặc biệt: Giá tính thuế là giá đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng không bao gồm thuế GTGT.
- Đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường: Giá tính thuế là giá đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa không bao gồm GTGT. - Đối với hàng hóa vừa chịu thuế bảo vệ môi trường, vừa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt: Giá tính thuế là giá đã bao gồm thuế bảo vệ môi trường và thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng không bao gồm thuế GTGT. - Đối với các HHDV có hóa đơn đặc thù (tem bưu chính, vé xe, vé tàu và một số vé khác được sự cho phép của BTC): Giá tính thuế là giá đã có thuế chia cho (1+ thuế suất). - Đối với HHDV dùng để trao đổi, biếu tặng, cho, trả thay lương: Giá tính thuế là giá bán chưa thuế GTGT của HHDV tương đương cùng loại trên thị trường tại thời điểm phát sinh trao đổi, biếu tặng, trao đổi, trả thay lương.
6 - Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm: Giá tính thuế là giá là giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT không bao gồm khoản lãi trả góp, trả chậm. - Đối với xây dựng, lắp đặt: Giá tính thuế là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc bàn giao chưa có thuế GTGT.