CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH 1. Tổng quan về Chi phí sản xuất 1. Khái niệm về chi phí sản xuất “Chi phí có thể hiểu một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hóa phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh; hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực kinh tế , tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh”(TS,Huỳnh Lợi, 2002) Chi phí về lao động sống là những chi phí về tiền lương, thưởng, phụ cấp và các khoản trích theo lương của người lao động. Chi phí lao động vật hóa là những chi phí về sử dụng các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động dưới các hình thái vật chất, phi vật chất, tài chính và phi tài chính.
Đối với nhà quản lý thì chi phí là một trong những mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít, chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí được xem như một trong những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát tốt được các khoản chi phí đó. Nhận diện, phân tích các chi phí phát sinh là điểm mấu chốt để ghi nhận và đo lường chính xác và đầy đủ về chi phí giúp nhà quản trị dễ dàng nắm bắt được tình hình sản xuất, từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp, tính toán phương án sản xuất, tiết kiệm chi phí một cách tốt nhất để hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Các phân loại khác nhau phục vụ cho những mục đích khác nhau, tùy vào từng tiêu thức phân loại mà chi phí sản xuất được phân loại như sau: 1. Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu Tiêu thức này căn cứ vào chi phí có cùng tính chất kinh tế để phân loại, không phân biệt chi phí phát sinh ở đâu, cho hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Cách phân loại này cho biết tổng chi phí phát sinh ban đầu để làm căn cứ lập kế hoạch và kiểm soát chi phí theo yếu tố, bao gồm các khoản mục sau: SVTH: Phạm Thị Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Trang Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Yếu tố này bao gồm những thành phần: chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế, chi phí nguyên vật liệu khác.
Chi phí nhân công: Bao gồm các khoản tiền lương chính, phụ, phụ cấp theo lương phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương như KPCĐ, BHYT, BHXH Chi phí công cụ, dụng cụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua của các công cụ, dụng cụ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng chi phí công cụ dụng cụ là tiền đề để nhà quản trị hoạch định mức luân chuyển qua kho, định mức dự trữ, nhu cầu thu mua công cụ, dụng cụ hợp lí. Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ, tài sản dài hạn dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí dịch vụ thuê ngoài: Bao gồm giá dịch vụ mua từ bên ngoài cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như giá dịch vụ điện, nước, phí bảo hiểm tài sản, giá thuê nhà cửa, phương tiện… Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinh doanh bằng tiền tại doanh nghiệp.
Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế Tiêu thức này căn cứ vào chức năng hoạt động mà chi phí phát sinh để phân loại. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động giúp cho kế toán và nhà quản lý nhận thức được vai trò, vị trí của chi phí đối với từng hoạt động sản xuất khác nhau trong doanh nhiệp, bao gồm các chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất: (1) Chi phí sản xuất Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp trong từng hoạt động sản xuất sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ… Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục này bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất như KPCĐ, BHYT, BHXH của công nhân trực tiếp thực hiện từng qua trình sản xuất. SVTH: Phạm Thị Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Trang Chi phí sản xuất chung: Bao gồm tất cả các CPSX ngoài hai khoản mục chi phí trên. Như vậy chi phí sản xuất chung thường bao gồm: Chi phí lao động gián tiếp, chi phí phục vụ, chi phí tổ chức quản lý sản xuất tại phân xưởng; Chi phí nhiên liệu dùng trong máy móc, thiết bị; chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất; Chi phí khấu hao máy móc thiết bị, TSCĐ dùng trong hoạt động sản xuất; chi phí dịch vụ thuê ngoài phục vụ sản xuất.
Đối với doanh nghiệp xây lắp chi phí sản xuất bao gồm cả chi phí sử dụng máy thi công. (2) Chi phí ngoài sản xuất Chi phí bán hàng: Chi phí bán hàng còn gọi là chi phí lưu thông, là những chi phí đảm bảo cho việc thực hiện chính sách và chiến lược bán hàng của doanh nghiệp. Chi phí bán hàng bao gồm chi phí lương và khoản trích theo lương của nhân viên bán hàng, vận chuyển hàng hoá tiêu thụ; Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, công cụ dụng cụ dùng trong việc bán và vận chuyển hàng hoá; Chi phí khấu hao thiết bị và TSCĐ trong hoạt động bán hàng; Chi phí dịch vụ thuê ngoài và chi phí khác bằng tiền liên quan đến bán hàng. Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm tất cả các chi phí liên quan đến công việc hành chính, quản trị ở phạm vi toàn doanh nghiệp.
Ngoài ra, chi phí quản lý doanh nghiệp còn bao gồm cả những chi phí mà không thể ghi nhận vào những khoản mục chi phí nói trên. Chi phí khác: Ngoài những khoản chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh chức năng của doanh nghiệp, trong chi phí của doanh nghiệp còn tồn tại những chi phí khác. Về cơ bản, chi phí khác thường bao gồm chi phí hoạt động tài chính, chi phí hoạt động bất thường. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ tính kết quả Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí với kỳ tính kết quả, chi phí trong kỳ kế toán phân chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ Chi phí sản phẩm: Là những chi phí gắn liền với sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua vào trong kỳ.
Đối với sản phẩm được sản xuất, chi phí sản phẩm là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung phát SVTH: Phạm Thị Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Trang sinh trong kỳ. Đối với hoạt động kinh doanh thương mại, chi phí sản phầm là giá mua và chi phí mua hàng hóa trong kỳ. Chi phí thời kỳ: Là những chi phí phát sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong một kỳ kế toán. Chi phí thời kỳ không phải là một phần của giá trị sản phẩm sản xuất hoặc hàng hoá mua vào mà chúng là những chi phí được khấu trừ vào kỳ tính lợi nhuận.
Ví dụ như hoa hồng đại lý, chi phí quảng cáo, chi phí thuê nhà, chi phí văn phòng… 1. Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán gồm các loại sau: Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng chịu chi phí, có thể quy nạp vào từng đối tượng chịu chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp… Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chi phí như chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công phụ, chi phí quảng cáo.Vì vậy để có thể xác định đúng chi phí cho các bộ phận thì phải tập hợp chung sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (mô hình ứng xử chi phí) Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán bao gồm biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Biến phí: là những chi phí nếu xét về tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động, mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành, tỷ lệ thuận chỉ trong một phạm vi hoạt động.
Ngược lại, xét trên một đơn vị mức độ hoạt động , biến phí là một hằng số. Định phí: là những chi phí mà xét về tổng số ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức độ hoạt động nhưng nếu xét trên một đơn vị thì tỉ lệ nghịch với mức độ hoạt động. Chi phí hỗn hợp: là những chi phí bao gồm cả biến phí và định phí. Ở một mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp là định phí, thể hiện đặc điểm của định phí; Ở một mức độ hoạt động khác, nó có thể bao gồm cả biến phí, định phí, đặc điểm của biến phí, định phí.
SVTH: Phạm Thị Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Trang Phân loại chi phí theo mô hình này giúp nhà quản trị thấy được những cách thức ứng xử từng loại chi phí , từ đó có được cách nhìn và quyết định tốt hơn khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động. Phân loại theo các nhận diện khác về chi phí Ngoài các cách phân loại trên, chi phí còn được phân loại thành: Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được: Chi phí kiểm soát được là những khoản mục chi phí mà nhà quản trị xác định được, nhà quản trị cũng có quyền quyết định về sự phát sinh nó. Ngược lại, chi phí không kiểm soát được là những khoản mục chi phí mà nhà quản trị không xác định được, đồng thời, không có quyền quyết định về sự phát sinh nó.