Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Thi công cơ giới Viglacera. Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp và kết luận 9 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP 2. Các Chuẩn mực kế toán Việt Nam và Chuẩn mực kế toán quốc tế ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 2. Chuẩn mực kế toán số 01-Chuẩn mực chung (VAS01) Theo chuẩn mực này thì tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc.
Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Theo đó chi phí xây lắp phải trả được ghi nhận theo số tiền thực tế chi ra hoặc tương đương tiền phải trả khi phát sinh các chi phí xây lắp đó. Cũng theo VAS 01- việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau, chi phí phải tuân thủ theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Khi ghi nhận một khoản doanh thu xây lắp thì phải ghi nhận một khoản chi phí xây lắp tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu xây lắp đo.
Chi phí tương ứng với doanh thu xây lắp bao gồm chi phí xây lắp của kỳ tạo ra doanh thu xây lắp và chi phí xây lắp của các kỳ trước hoặc chi phí xây lắp phải trả nhưng liên quan đến doanh thu xây lắp của kỳ đó. Chuẩn mực kế toán số 03 (VAS 03) -Tài sản cố định hữu hình và chuẩn mực kế toán 04 (VAS 04) -Tài sản cố định vô hình: Nội dung của hai chuẩn mực này đưa ra những quy định hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán đối với TSCĐ gồm có: Quy định tiêu chuẩn TSCĐ, thời điểm ghi nhận, xác định giá trị ban đầu, chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu, xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu, khấu hao, thanh lý TSCĐ và một số quy định khác để làm cơ sở ghi sổ và lập báo cáo tài chính. 10 Trong quá trình sản xuất công ty nào cũng dùng các tư liệu sản xuất như nhà xưởng , máy móc thiết bị và các TSCĐ khác. Khi các yếu tố này tham gia trong quá trình sản xuất thì giá trị của nó được chuyển dịch dần dần vào giá trị của các sản phẩm – phần giá trị này được gọi là giá trị hao mòn của TSCĐ do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Đây được hiểu là “ sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ khoa học kỹ thuật…trong quá trình hoạt động của TSCĐ” “Mọi TSCĐ của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao. Mức trích khấu hao TSCĐ được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ”. Vì vậy, doanh nghiệp phải tính toán và phân bổ giá trị KH TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong kỳ theo quy định của chuẩn mực kế toán số 03 “ TSCĐ hữu hình” và chuẩn mực kế toán số 04 “TSCĐ vô hình”. Việc tính toán xác định chi phí KH TSCĐ luôn là công tác trọng tâm trong kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm.
Bên cạnh đó, chuẩn mực cũng quy định có ba phương phương pháp tính khấu hao TSCĐ hữu hình: Phương pháp khấu hao đường thẳng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm. -> Vì thế chuẩn mực này chi phối và ảnh hưởng đến công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung thông qua việc kế toán tính và phân bổ khấu hao TSCĐ cho từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất thông qua ba phương pháp khấu hao trên. Chuẩn mực kế toán số 15 - Hợp đồng xây dựng (VAS 15) Chuẩn mực kế toán việt nam số 15 “hợp đồng xây dựng” quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng; Ghi nhận doanh thu, chi phí của hợp đồng xây dựng làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Hợp đồng xây dựng 11 quy định trong chuẩn mực này được phân loại thành hợp đồng xây dựng có giá cố định và hợp đồng xây dựng với chi phí phụ thêm, một số hợp đồng xây dựng có đặc điểm của cả hai loại hợp đồng trên.
• Hợp đồng xây dựng với giá cố định: Là hợp đồng xây dựng trong đó nhà thầu chấp thuận một mức giá cố định cho toàn bộ hợp đồng hoặc một đơn giá cố định trên một đơn vị sản phẩm hoàn thành. Trong một số trường hợp khi giá cả tăng lên, mức giá đó có thể thay đổi phụ thuộc vào các điều khoản ghi trong hợp đồng. • Hợp đồng xây dựng với chi phí phụ thêm: Là hợp đồng xây dựng trong đó nhà thầu được hoàn lại các chi phí thực tế được phép thanh toán, cộng (+) thêm một khoản được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên những chi phí này hoặc được tính thêm một khoản phí cố định. Cũng theo VAS 15 chi phí của hợp đồng xây dựng gồm : • Chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng: chi phí nhân công tại công trường, bao gồm cả chi phí giám sát công trình; chi phí nguyên liệu, vật liệu, bao gồm cả thiết bị cho công trình; khấu hao máy móc, thiết bị và các TSCĐ khác sử dụng để thực hiện hợp đồng; chi phí vận chuyển, lắp đặt, tháo dỡ máy móc, thiết bị và nguyên liệu, vật liệu đến và đi khỏi công trình; chi phí thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị để thực hiện hợp đồng; chi phí thiết kế và trọ giúp kỹ thuật liên quan trực tiếp đến hợp đồng; chi phí dự tính để sửa chữa và bản hành công trình; các chi phí liên quan trực tiếp khác… • Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng và có thể phân bổ cho từng hợp đồng cụ thể: chi phí bảo hiểm; chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật không liên quan trực tiếp đến một hợp đồng cụ thể; chi phí quản lý chung trong xây dựng.
Ngoài ra theo VAS 15 quy định việc ghi nhận chi phí của hợp đồng xây dựng: 12 • Nếu hợp đồng quy định nhà thầu thanh toán theo tiến độ kế hoạch, khi kết quả thực hiện hợp đồng ước tính một cách đáng tin cậy thì chi phí được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu xác định. • Nếu hợp đồng quy định nhà thầu thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, kết quả thực hiện của hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận thì chi phí được ghi nhận với phần chi phí đã hoàn thành • Chi phí được ghi nhận theo phần hoàn thành của hợp đồng, gọi là phương pháp tỷ lệ % hoàn thành. Theo phương pháp này thì chi phí của hợp đồng xây dựng được ghi nhận trong BCKQKD là chi phí của phần hoàn thành trong kỳ báo cáo. Khi phần công việc đã hoàn thành được xác định bằng phương pháp tỷ lệ phần trăm (%) giữa chi phí đã phát sinh của phần công việc đã hoàn thành tại một thời điểm so với tổng chi phí dự toán của hợp đồng, thì những chi phí liên quan tới phần công việc đã hoàn thành sẽ được tính vào chi phí cho tới thời điểm đó.
Những chi phí không được tính vào phần công việc đã hoàn thành: chi phí hợp đồng xây dựng liên quan tới các hoạt động trong tương lai : CPNVL đã được chuyển tới địa điểm xây dựng hoặc dành sử dụng hợp đồng nhưng chưa được lắp đặt, sử dụng…Bên cạnh đó chuẩn mực còn quy định khi kết quả thực hiện hợp đồng không thể ước tính được một cách tin cậy, thì chi phí của hợp đồng xây dựng ghi nhận trong kỳ là chi phí phát sinh kỳ này. -> Để hạch toán và tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm kế toán phải ghi nhận và tập hợp chi phí. Vì thế thông qua chuẩn mực này quy định giúp cho các doanh nghiệp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 2.
Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất xây lắp Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá 13 trình sản xuất kinh doanh ở một thời kỳ nhất định trong doanh nghiệp xây lắp, bao gồm chi phí sản xuất xây lắp và chi phí sản xuất ngoài xây lắp. Chi phí sản xuất xây lắp cấu thành giá thành sản phẩm xây lắp. (Nguồn: Giáo trình” Kế toán tài chính” NXB Tài chính 2007- Chủ biên: PGS.TS Nghiêm Văn Lợi) Trong các doanh nhiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng có rất nhiều loại chi phí gắn với nội dung kinh tế, công dụng và đặc tính khác nhau do vậy để thuận lợi cho công tác quản lý và công tác hạch toán đòi hỏi phải có sự phân loại các chi phí phát sinh một cách khoa học. Có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau như: phân loại theo nội dung kinh tế, công dụng, vai trò,… mỗi cách phân loại này đều đáp ứng ít nhiều cho mục đích quản lý, hạch toán, kiểm tra ở các góc độ khác nhau.
Thông thường chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp được phân loại theo các tiêu thức sau: a) Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí Là việc phân chia chi phí thành những yếu tố khác nhau nhằm phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố: • Chi phí nguyên liệu, vật liệu : gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ. sử dụng trong sản xuất kinh doanh trong kỳ.