MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường với các thành phần kinh tế đa dạng, nhiều ngành nghề và nhiều loại hình. Đồng thời với sự chuyển đổi nền kinh tế, vai trò quản lý kinh tế của đất nước cũng thay đổi, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế mà quản lý, điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ, phương tiện.tạo sự ổn định Môi trường kinh doanh phát triển. Trong đó, thuế được coi là một trong những công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô quan trọng nhất.
Thuế không chỉ là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Mọi quyết định về thuế đều liên quan đến dự trữ, đầu tư, tiêu dùng và phân bổ nguồn lực của xã hội. Điều này được thể hiện chủ yếu trên các mặt: tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, kiểm soát lạm phát, tạo lập, phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, ổn định tài chính - tài chính, tạo bảo đảm tài chính cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Để bắt kịp với tình hình kinh tế ngày càng phát triển, những ngành nghề mới, thành phần kinh tế mới ra đời thì hệ thống luật thuế của Nhà nước cũng phải điều chỉnh, cải tiến liên tục.
Tại Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 3, số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008 đó thông qua luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) thay thế cho luật thuế doanh thu và hiệu lực thi hành của từ ngày 01/01/2009. Đến nay, trải qua nhiều năm thực hiện luật thuế GTGT, nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên trong việc áp dụng hai loại thuế này cũng nhiều vướng mắc cần giải quyết. 1 Trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Sơn Tây, xuất phát từ những lý do này, em xin chọn đề tài: “Kế toán thuế GTGT Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Sơn Tây ”.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích thực trạng kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Sơn Tây, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT tại công ty. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa lí luận cơ sở về công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại doanh nghiệp. - Phân tích thực trạng công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Sơn Tây.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Sơn Tây. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Tập trung nghiên cứu công tác Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Sơn Tây. Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi không gian - Đề tài được nghiên cứu tại Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Sơn Tây - Địa chỉ: 171 phố Lê Lợi - Thị xã Sơn Tây - Hà Nội 1.2 Phạm vi thời gian - Thời gian thực hiện đề tài: Từ ngày 01 tháng 07 năm 2022 đến ngày 27 tháng 12 năm 2022.
- Số liệu sử dụng phân tích từ năm 2019 – 2020. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về kế toán thuế GTGT 2.1 Khái niệm thuế GTGT Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có tên viết tắt là VAT từ cụm từ tiếng Anh Value Added Tax: thuế giá trị gia tăng. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng vào năm 1954.
Căn cứ theo Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Bùi Hồng Phúc và cộng sự (2019), Giáo trình Kế toán thuế, NXB Nông Nghiệp “Thuế GTGT tính trên giá bán chưa có thuế GTGT. Người sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ có trách nhiệm thu và nộp hộ người tiêu dùng. Người tiêu dùng mua sản phẩm đã có thuế GTGT, vì vậy người tiêu dùng là người chịu khoản thuế này.
Bùi Hồng Phúc và cộng sự (2019), Giáo trình Kế toán thuế, NXB Nông Nghiệp.2 Vai trò Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, thuế GTGT hiện chiếm tỷ trọng ổn định 20-25% trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí. Với việc áp dụng thuế suất 0% để khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ (HHDV), doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không những được miễn thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được truy thu đầy đủ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước. nên họ có lợi thế giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, vai trò tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế.
3 Khi bắt đầu thành lập công ty, kế toán thuế là bộ phận thực hiện việc kê khai và nộp lệ phí môn bài. Sau đó, trong quá trình hoạt động của công ty, bộ phận kế toán thuế thực hiện nhiệm vụ thu thập chứng từ do công ty lập để giám sát, hạch toán; kiểm tra, đối chiếu hóa đơn GTGT với bảng kê mua vào, bán ra thuế theo từng địa điểm; hàng tháng báo cáo tổng hợp thuế GTGT đầu vào sản xuất toàn Công ty theo tỷ lệ phân bổ trên sản lượng tham gia của từng cá nhân; cập nhật thông tin về pháp luật thuế, chuẩn bị thông báo về các hành động mà tổ chức đã biết và sẽ được thực hiện, theo yêu cầu của pháp luật về thuế liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty; doanh nghiệp lập kế hoạch thuế, nộp ngân sách.3 Kế toán thuế giá trị gia tăng của công ty 2.1 Đặc điểm của thuế GTGT Thuế GTGT là loại thuế đánh vào tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, nhưng đánh vào khâu bán hàng, là loại thuế gián thu. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt giữa người tiêu dùng trung gian và người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, việc mua bán từng món hàng đều bị đánh thuế.
Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao bởi nó không bị ảnh hưởng vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế, mà chỉ làm tăng giá bán của nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Việc tổ chức và phân bổ chu kỳ kinh doanh không ảnh hưởng đến thuế GTGT. Nói cách khác, chu kỳ kinh tế bị phân mảnh nhiều hay ít cũng không ảnh hưởng đến số thuế GTGT thu được. Thuế GTGT có khả năng đem lại số thu thường xuyên, ổn định cho ngân sách nhà nước (NSNN).
Điều này thể hiện tính chủ động của Nhà nước trong quan điểm đông viên vào ngân sách của mình cũng như điều tiết vĩ mô nền kinh tế.1 Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và thuế suất thuế giá trị gia tăng 4 a. Đối tượng chịu thuế GTGT Theo điều 3 luật thuế GTGT số 13/2008 ngày 3/6/2008 của Quốc Hội khóa XII “Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của luật thuế GTGT”. Như vậy, để trở thành đối tượng chịu thuế GTGT thì hàng hóa đó phải bị tác động bởi một trong các hành vi sau: hoặc là sản xuất, hoặc là kinh doanh hoặc là tiêu dùng ở Việt Nam; dịch vụ đó phải bị tác động bởi một trong các hành vi hoặc là kinh doanh hoặc là sử dụng ở Việt Nam. Lý giải cho vấn đề này cũng đơn giản, bởi vì thuế GTGT không quan tâm đến hành vi tác động vào đối tượng chịu thuế mà chỉ quan tâm đến giá trị tăng thêm của đối tượng chịu thuế.
Vì vậy bất cứ khi nào, ở đâu trên lãnh thổ Việt Nam, HHDV có phát sinh giá trị tăng thêm do hành vi tác động của đối tượng nộp thuế thì HHDV đó là đối tượng chịu thuế GTGT. Doanh nghiệp không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng vào cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thược đối tượng không chịu thuế mà phải tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh. Thuế suất thuế giá trị gia tăng Thuế suất 0%: Theo Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC (được cập nhật, sửa đổi, bổ sung theo Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC và Điều 1 Thông tư 130/2016/TT- BTC) Áp dụng với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình của doanh nghiệp chế xuất, hàng bán cho cửa hàng bán hàng miễn thuế; vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất khẩu. Hàng hóa xuất khẩu: Hàng hóa xuất khẩu bao gồm: Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, kể cả ủy thác xuất khẩu; Hàng hóa bán vào khu phi thuế quan 5 theo quy theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; hàng bán cho cửa hàng miễn thuế; Hàng hóa mà điểm giao, nhận hàng hóa ở ngoài Việt Nam;.
Các trường hợp được coi là xuất khẩu: Hàng hóa gia công chuyển tiếp theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động mua, bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công 14 hàng hóa với nước ngoài; hàng hóa xuất khẩu tại chỗ theo quy định của pháp luật; hàng hóa xuất khẩu để bán tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài. Dịch vụ xuất khẩu: Dịch vụ cung ứng trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; dịch vụ cung ứng trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở trong khu phi thuế quan và tiêu dùng trong khu phi thuế quan. Dịch vụ của ngành hàng không, hàng hải cung cấp trực tiếp cho tổ chức ở nước ngoài hoặc thông qua đại lý, bao gồm: Các dịch vụ của ngành hàng không áp dụng thuế suất 0%: dịch vụ cung cấp suất ăn hàng không, dịch vụ cất hạ cánh tàu bay.; các dịch vụ của ngành hàng hải áp dụng thuế suất 0%: dịch vụ lai dắt tàu biển, hoa tiêu hàng hải, cứu hộ hàng hải, cầu cảng,.