PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Chi phí, quản trị chi phí là một trong những vấn đề được tất cả các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Vì chi phí chính là các nguồn lực tiêu hao, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ, một trong ba trụ cột tác động đến lợi nhuận hàng kỳ của doanh nghiệp. Những điều kiện mới của hoạt động sản xuất kinh doanh cùng sự xuất hiện của thế hệ các nhà quản trị được đào tạo bài bản, năng động, chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp, kết hợp cấu trúc doanh nghiệp đang hình thành những ranh giới mờ (Shlomon Maital, 2014) tạo ra nhiều liên kết theo chiều ngang với sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại.
Điều này đòi hỏi hệ thống các lý luận về quản trị nói chung trong đó có kế toán quản trị chi phí nói riêng cần tiếp tục được bổ sung, tổng kết, tạo ra các công cụ cần thiết để hỗ trợ nhà quản trị xây dựng, điều hành doanh nghiệp bằng việc bán sản phẩm, dịch vụ ở một mức giá hợp lý với khách hàng và mức chi phí chấp nhận được đối với doanh nghiệp. Sự phát triển cao của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế mang lại nhiều thời cơ nhưng đi kèm với đó là những thách thức vô cùng lớn. Các doanh nghiệp ngày nay không chỉ biết sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước, mà còn phải hướng ra khu vực và thế giới. Đối thủ của doanh nghiệp là những công ty đa quốc gia, những tập đoàn toàn cầu, với lợi thế về vốn, kinh nghiệm, khoa học công nghệ, khả năng tiếp cận các nguồn lực giá rẻ, sự tối ưu hóa trong việc sử dụng các công cụ quản trị hiện đại.
Bên cạnh đó dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư 4.0, với nhiều sản phẩm, mô hình sản xuất kinh doanh thông minh, nền kinh tế chia sẻ, xu hướng sử dụng hoặc tẩy chay các sản phẩm quá nhanh làm cho nhiều doanh nghiệp không kịp thích ứng, rơi vào tình trạng khủng hoảng, phá sản dù trước đó không lâu là những tập đoàn có quy mô, thương hiệu trên thị trường. Tất cả đang hàng ngày, hàng giờ tác động đến doanh nghiệp, cần phải thay đổi, nhất là liên quan đến hoạt động quản trị doanh nghiệp. Ngành sản xuất gốm sứ xây dựng, trong những năm gần đây với sự ổn định của nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh về sản lượng, tiêu thụ, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia sản xuất sứ vệ sinh, gạch gốm ceramic, gạch granit hàng đầu thế giới với doanh thu khoảng 3 tỉ USD/năm (Doãn Thành, 2018). Sản phẩm gốm sứ xây dựng Việt Nam đã được xuất khẩu đến hơn 40 nước và vùng lãnh thổ.
Tuy vậy khó khăn chung của ngành hiện nay là chi phí đầu vào tăng do giá điện, than ngày càng cao, chưa hoàn toàn chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào đặc biệt là men. Nhiều vùng sản xuất lớn của cả nước tại các địa phương như: Bình Dương, Đồng Nai, Hải Dương, Quảng Ninh….doanh nghiệp 1 sản xuất gốm sứ xây dựng còn phân tán, quy trình sản xuất chưa hợp lý dẫn đến khó đầu tư nâng cấp công nghệ sản xuất trong bối cảnh giá trị hàng tồn kho lớn, ngân hàng xiết chặt tín dụng làm các doanh nghiệp đã và đang gặp rất nhiều khó khăn. Thái Bình cũng là một tỉnh có ngành sản xuất gốm sứ xây dựng phát triển. Mặc dù có những khó khăn chung của ngành, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm nhưng do tận dụng được nguồn khí đốt tự nhiên giá rẻ, tay nghề của người lao động cao, sự thay đổi nhanh về tư duy, cách làm của Ban lãnh đạo từng doanh nghiệp nên giá trị sản lượng, tiêu thụ đều tăng từ 20% đến 25%/năm (UBND tỉnh Thái Bình, 2017).
Tuy vậy do xuất phát điểm của nhiều doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân, hoạt động sản xuất phụ thuộc lớn vào nguồn khí đốt tự nhiên, tổ chức sản xuất dựa trên kinh nghiệm nên việc xác định kế hoạch, tổ chức, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp nói chung, công tác kế toán và kiểm soát chi phí nói riêng còn nhiều hạn chế. Trong đó kế toán tại các doanh nghiệp chủ yếu mới chỉ tập trung vào kế toán tài chính, chưa chú trọng kế toán quản trị. Nhà quản trị đôi khi không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả các thông tin do kế toán cung cấp để phục vụ việc ra quyết định. Các công việc liên quan đến kỹ thuật của kế toán về lập dự toán, tập hợp, phân bổ, kiểm soát, đánh giá chi phí chưa đầy đủ, kịp thời.
Đội ngũ kế toán viên chưa có kỹ năng sử dụng các công cụ, kỹ thuật của kế toán quản trị chi phí. Ứng dụng kế toán quản trị chi phí còn chưa đồng bộ do bị chi phối bởi nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài. Tính đến thời điểm này, các nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình hầu như chưa có hoặc chưa được công bố. Xuất phát từ tất cả các lý do về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án “Kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất gốm, sứ xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình” đã được tác giả lựa chọn.
Với mong muốn thông qua luận án ngoài việc hệ thống hóa các cơ sở lý luận về KTQTCP gắn liền với các chức năng quản trị doanh nghiệp, còn tập trung xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng KTQTCP, phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp để KTQTCP được vận dụng, triển khai tốt hơn trong thực tế, phục vụ tích cực cho các chức năng quản trị. Giúp các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình, nhà quản trị điều hành, lãnh đạo các doanh nghiệp phát triển bền vững, khẳng định được chữ tín, thương hiệu của sản phẩm gốm sứ xây dựng Thái Bình với các khách hàng trong tỉnh, trong nước và quốc tế. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2 Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận án, thông qua phân tích, tổng hợp tài liệu có liên quan, tác giả xin khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu về KTQTCP có mối liên hệ trực tiếp với đề tài luận án như sau: 2. Nghiên cứu về lập dự toán chi phí hoạt động Đây là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng của KTQT trong nhiều thập kỷ qua vì có liên quan trực tiếp đến kế toán chi phí, kế toán trách nhiệm, là cơ sở để đo lường hiệu quả của tổ chức và được sử dụng cho nhiều mục đích như lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, điều phối hoạt động, thúc đẩy, khuyến khích nhân viên….
Cách thức tiếp cận nghiên cứu về dự toán chi phí (ngân sách) hoạt động thường dựa trên ba khung lý thuyết cơ bản là lý thuyết kinh tế, lý thuyết tâm lý học và lý thuyết xã hội học. Trong đó tập trung vào các câu hỏi quan trọng là: - Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến dự toán ngân sách hoạt động? - Làm thế nào để việc lập dự toán ngân sách hỗ trợ việc hoạch định, giải quyết các xung đột trong các tổ chức? - Phải làm gì để quá trình thực hiện dự toán ngân sách tác động hiệu quả đến động lực của từng cá nhân và bộ phận? Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết kinh tế coi dự toán ngân sách là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán quản trị trong doanh nghiệp (Mark Covaleski và cộng sự, 2007) và việc thực hiện dự toán ngân sách tạo ra giá trị, mang lại sự cải thiện Pareto (Demski và Feltham, 1978). Điều này có nghĩa là khi việc lập dự toán ngân sách hoạt động có sự tham gia của các cá nhân, bộ phận sẽ giúp chủ sở hữu, nhà quản trị kiểm soát hoạt động tốt hơn thông qua việc khuyến khích từng nhân viên, bộ phận trong doanh nghiệp hoàn thành các mục tiêu ngân sách đã được xây dựng. Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết tâm lý học tập trung việc tìm câu trả lời cho câu hỏi: Dự toán ngân sách ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của cá nhân như thế nào? Kết quả cho thấy dự toán ngân sách có tác động trọng yếu, tích cực, vô điều kiện đến tâm lý và hành vi, liên quan trực tiếp đến các vấn đề của từng cá nhân như mức độ hài lòng, căng thẳng, khát vọng, nhận thức và cam kết…(Birnberg và cộng sự, 2006).
Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết xã hội học tập trung xử lý các vấn đề xã hội liên quan đến các mối quan hệ giữa nhân viên với lãnh đạo, giữa các bộ phận với nhau phát sinh trong quá trình lập, thực hiện, đánh giá hiệu quả của dự toán ngân sách nhằm phân bổ tối ưu các nguồn lực, phục vụ hữu hiệu cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó quan điểm dự toán ngân sách hoạt động không chỉ là ngôn ngữ của các 3 con số mà còn là ngôn ngữ của sự đồng thuận, cho phép xử lý các vấn đề dự kiến có thể xảy ra mà không làm phát sinh các vấn đề xung đột (Czarniawska và Jacobsson, 1989). Và dự toán ngân sách như một phương tiện để chia sẻ, trao đổi, là biểu hiện của giá trị, không phải phương tiện để kiểm soát, một công cụ hành động (Czarniawska, 1997) được thừa nhận rộng rãi. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các nghiên cứu hiện nay về lập dự toán ngân sách hoạt động cũng chỉ ra những hạn chế của hoạt động này như: Ngân sách hạn chế quá trình phản hồi, tạo ra những rào cản cho sự thay đổi; ngân sách thường tập trung vào việc cắt giảm chi phí mà không quan tâm đến việc định hướng tạo giá trị và chiến lược của doanh nghiệp; ngân sách tạo ra những rào cản giữa các bộ phận và thường được lập trên những giả định không chắc chắn (Mark Covaleski và cộng sự, 2007).
Nghiên cứu về lập kế hoạch chi phí chiến lược Các nghiên cứu về lập kế hoạch chi phí chiến lược hiện nay tập trung nhiều vào việc xây dựng kế hoạch chi phí mục tiêu của doanh nghiệp. Hệ thống chi phí mục tiêu – Target Costing được thực hiện đầu tiên và chủ yếu tại các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở Nhật Bản. Theo thống kê đến nay có đến 80% các công ty lớn ở ngành công nghiệp lắp ráp tại Nhật Bản đã áp dụng phương pháp chi phí mục tiêu.