CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU 1. Những vấn đề cơ bản về nguyên vật liệu. Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu. - Khái niệm Nguyên vật liệu (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02): NVL là một bộ phần của hàng tồn kho, sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, nó bảo gồm cả vật liệu tồn kho, vật liệu gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường.
Đặc điểm: + Đặc điểm cơ bản của nguyên vật liệu là tham gia một lần vào hoạt động sản xuất kinh doanh, sau mỗi chu kì sản xuất không còn giữ được hình thái vật chất ban đầu, bị tiêu hao toàn bộ và chuyển dịch giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì, giá trị của nguyên vật liệu được chuyển một lần vào sản phẩm mới tạo ra. Xét về mặt giá trị thì nguyên vật liệu là thành phần quan trọng của vốn lưu động trong doanh nghiệp, đặc biệt là vốn dự trữ nguyên vật liệu. Bên cạnh đó trong các doanh nghiệp xây lắp chi phí về vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn từ 60- 70% trong tổng giá trị công trình hoàn thành. + Xuất phát từ đặc điểm trên của nguyên vật liệu nên trong quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải tập trung quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu tất cả các khâu thu mua, bảo quản dự trữ và sử dụng nhằm hạ thấp chi phí sản xuất sản phẩm và trong một chừng mực nhất định giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu trong sản xuất còn là cơ sở để tăng thêm sản xuất.
Phân loại nguyên vật liệu Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu kế toán, nguyên vật liệu được chia thành: + Nguyên vật liệu chính (Bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài):Đối với các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu chính là đối tượng chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm như: tôn, đồng, sắt, thép trong các doanh nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây dựng cơ bản; bông, sợi trong các doanh nghiệp dệt vải, trong các xí nghiệp may. Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm , ví dụ như: sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng được coi là nguyên vật liệu chính.S Hoàng Thị Bích Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Dinh-K8CK7A Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp + Nguyên vật liệu phụ: Là các loại vật liệu được sử dụng để làm tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công việc quản lý sản xuất, bao gói sản phẩm. + Nhiên liệu: là các chất dùng để tạo ra năng lượng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh như hơi đốt, dầu, khí nén, xăng,. Nhiên liệu thực chất là một loại vật liệu phụ được tách ra thành một nhóm riêng do vai trò quan trọng của nó và để nhằm mục đích dễ quản lý và hạch toán hơn.
Dựa vào tác dụng của nhiên liệu trong quá trình sản xuất có thể chia nhiên liệu thành những nhóm sau:. Nhiên liệu dùng trực tiếp cho sản xuất. Nhiên liệu sử dụng cho máy móc thiết bị. + Phụ tùng thay thế: Bao gồm các loại phụ tùng, chi tiết để thay thế sửa chữa máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải.
+ Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các loại thiết bị, phương tiện sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản (cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản). + Vật liệu khác: là những vật liệu trong doanh nghiệp ngoài những vật liệu kể trên như: vải vụn, phôi cắt,. Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết, cụ thể của từng loại hình doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng thứ, quy cách. Việc phân loại cần thành lập sổ danh điểm cho từng thứ vật liệu trong đó mỗi nhóm vật liệu được sử dụng một ký hiệu riêng thay tên gọi, nhãn hiệu, quy cách.
Căn cứ vào nguồn nhập, nguyờn vật liệu được chia thành: + Nguyên vật liệu mua ngoài: thu mua từ thị trường trong nước, hoặc nhập khẩu. + Nguyên vật liệu tự gia công chế biến. + Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh. Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng thì nguyên vật liệu trong doanh nghiệp được chia thành: + Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất.S Hoàng Thị Bích Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Dinh-K8CK7A Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp + Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác như quản lý phân xưởng, quản lý doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm.
Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán. Yêu cầu quản lý: Đối với doanh nghiệp sản xuất việc quản lý nguyên vật liệu một cách khoa học và hiệu quả là sự đòi hỏi cấp bách. Hiện nay, nguyên vật liệu không còn là khan hiếm và không còn phải dự trữ nhiều như trước nhưng vấn đề đặt ra là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên đồng thời sử dụng vốn tiết kiệm nhất không gây ứ đọng vốn kinh doanh. Chính vì lý do đó nên ta có thể xem xét việc quản lý nguyên vật liệu trên các khía cạnh sau: - Quản lý thu mua nguyên vật liệu sao cho hiệu quả theo đúng yêu cầu sử dụng với giá cả hợp lý, đồng thời tổ chức tốt khâu vận chuyển để tránh thất thoát.
- Thực hiện bảo quản nguyên vật liệu tại kho bãi theo đúng chế độ quy định cho từng loại trong điều kiện phù hợp với quy mô tổ chức doanh nghiệp để tránh lãng phí nguyên vật liệu. - Do đặc tính của nguyên vật liệu chỉ tham gia vào 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị tiêu hao toàn bộ trong quá trình đó. Hơn nữa chúng thường xuyên biến động nên các doanh nghiệp cần phải xây dựng định mức tồn kho để đảm bảo tốt nhu cầu sản xuất. Nhiệm vụ kế toán: Xuất phát từ vị trí yêu cầu quản lý vật liệu cũng như vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng thì kế toán vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây: - Kế toán ghi chép, theo dõi tình hình nhập – xuất – tồn kho vật liệu cả về số lượng, chất lượng, giá trị.
Tính giá trị của vật liệu xuất kho theo phương pháp thích hợp, phương pháp tính giá phải sử dụng nhất quán ít nhất là trong một niên độ kế toán. - Kế toán tính toán và phân bổ giá trị của vật liệu sử dụng vào chi phí sản xuất theo đúng chế độ quy định - Kế toán vận dụng đúng đắn các phương pháp hạch toán vật liệu hướng dẫn kiểm tra việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục nhập, xuất kho vật liệu. Kiểm tra hướng dẫn việc hạch toán nghiệp vụ của thủ kho, thường xuyên đối chiếu số liệu GVHD: Th.S Hoàng Thị Bích Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Dinh-K8CK7A Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp trên sổ kế toán với thẻ kho của thủ kho để xác định số tồn kho thực tế của từng thứ vật liệu. - Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thu mua, tình hình dự trữ và tiêu hao vật liệu; phát hiện và xử lý kịp thời vật liệu, công cụ, dụng cụ thừa, thiếu, ứ đọng kém phẩm chất, ngăn ngừa việc sử dụng vật liệu lãng phí.
- Kế toán tham gia kiểm kê, đánh giá lại vật liệu theo chế độ của nhà nước. Lập các báp cáo kế toán về vật liệu phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý, điều hành và phân tích kinh tế. Nội dung kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp 1.Kế toán nguyên vật liệu theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 1. Theo VAS 01: Là chuẩn mực chung (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
Kế toán nguyên vật liệu cũng tuân thủ những chuẩn mực kế toán chung đề ra, về mặt nguyên tắc hạch toán nguyên vật liệu tuân thủ các nguyên tắc: - Cơ sở dồn tích: mọi nghiệp vụ kinh tế liên quan nguyên vật liệu phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Vì việc phát sinh các chi phí theo tiến độ thực hiện trong hoạt động xây lắp có ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty mà cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Từ đó, cho phép tài sản của một doanh nghiệp được phản ánh một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả,.
- Giá gốc: nguyên vật liệu phải được ghi nhận theo giá gốc là giá được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của nguyên vật liệu vào thời điểm nguyên vật liệu được ghi nhận. - Thận trọng: nguyên tắc này đòi hỏi kế toán nguyên vật liệu phải được lập dự phòng giảm khi giá trị thuần có thể thực hiện đượcthấp hơn giá gốc.S Hoàng Thị Bích Ngọc SVTH: Nguyễn Thị Dinh-K8CK7A Luan van Trường Đại Học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp Về yêu cầu cơ bản đối với kế toán nguyên vật liệu thì các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến nguyên vật liệu phải được ghi nhận một cách trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh được giữa các kỳ kế toán 1. Theo VAS 02 Đánh giá vật liệu theo giá thực tế Giá thực tế nhập kho: Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu được nhập từ nhiều nguồn khác nhau nên giá thực tế của chúng cũng khác nhau. Về nguyên tắc, giá vật liệu nhập kho được xác định theo giá thực tế bao gồm toàn bộ chi phí hình thành vật liệu đó cho đến lúc nhập kho.