CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Cơ sở lý luận của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất 1.1 Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu 1.1 Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – “Hàng tồn kho”: Nhiên liệu, vật liệu là một bộ phận của HTK. Do vậy: NVL là bộ phận tài sản ngắn hạn dự trữ cho sản xuất, lưu thông hoặc đang trong quá trình sản xuất chế tạo của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế dùng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trích (Giáo trình kế toán tài chính – Học viện tài chính., năm 2010, Nhà xuất bản thống kế, Hà Nội, trang 126) Trong DNSX, nguyên vật liệu là đối tượng lao động – một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở để hình thành nên thực thể của sản phẩm, tham gia thường xuyên, trực tiếp vào quá trình hình thành sản phẩm và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm được sản xuất ra. NVL là một yếu tố đầu vào quan trọng nhất của quá trình SXKD, nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, về mặt giá trị NVL chuyển dịch một lần toàn bộ vào giá trị của sản phẩm tạo ra.
Nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.2 Đặc điểm, phân loại nguyên vật liệu trong DNSX Đặc điểm NVL trong DNSX Các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh. Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển trực tiếp vào sản phẩm, là căn cứ để tính giá thành. Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng cao trong tổng chi phí sản xuất, do vậy trong giá thành sản phẩm thì chi phí NVL cũng chiếm tỉ trọng đáng kể. NVL là những tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho, vật liệu tham gia vào giai đoạn đầu của quá trình sản xuất kinh doanh trong giá thành sản phẩm mới chúng đa dạng và phong phú về chủng loại.
NVL là cơ sở vật chất hình thành nên SVTH: Trần Văn Hoàng 6 Lớp: K45D4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Trần Thị Hồng Mai thực thể sản phẩm, chúng sẽ thay đổi về mặt hình thái, không giữ nguyên được trạng thái ban đầu khi đưa vào sản xuất. Về mặt kỹ thuật, NVL là những vật chất tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, đời sống lý hóa phức tạp dễ bị tác động bởi thời tiết, khí hậu và môi trường xung quanh. Từ đó, ta có thể thấy được vai trò quan trong của NVL trong sản xuất.
Phân loại nguyên vật liệu Phân loại nguyên vật tư là việc sắp xếp các loại vật tư thành từng nhóm, từng loại và từng thứ vật tư theo những tiêu thức nhất định phục vụ cho yêu cầu quản lý. Mỗi doanh nghiệp hay loại hình doanh nghiệp, do tính đặc thù trong sản xuất kinh doanh nên sử dụng các loại vật tư cũng khác nhau cả về tỷ trọng cũng như danh điểm từng lọai. Nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ vào yêu cầu quản lý, nguyên vật liệu bao gồm : * Nguyên liệu liệu chính Đặc điểm chủ yếu của nguyên liệu liệu chính là khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ cấu thành nên thực thể sản phẩm; toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển vào giá trị sản phẩm mới.
* Nguyên vật liệu phụ Nguyên vật liệu phụ là các loại vật liệu được sử dụng trong sản xuất để là tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công việc quản lý sản xuất, bao gói sản phẩm … Các loại vật liệu này không cấu thành nên thực thể sản phẩm * Nhiên liệu Nhiên liệu là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh, phục vụ cho công nghệ sản xuất, phương tiện vận tải, công tác quản lý … Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng , thể rắn hay thể khí. * Phụ tùng thay thế Phụ tùng thay thế là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị , phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ … SVTH: Trần Văn Hoàng 7 Lớp: K45D4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Trần Thị Hồng Mai * Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản là những vật tư được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp và thiết bị không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt cho công trình xây dựng cơ bản.
* Vật liệu khác Vật liệu khác là các loại vật liệu không được xếp vào các lọai trên. Các lọai vật liệu này do quá trình sản xuất lọai ra như các lọai phế liệu thu hồi do thanh lý TSCĐ … Căn cứ vào nguồn gốc nguyên liệu liệu được chia thành : - Nguyên vật liệu mua ngoài - Nguyên vật liệu tự chế biến, gia công Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng, nguyên vật liệu được chia thành: - Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất kinh doanh. - Nguyên vật liệu dùng cho công tác quản lý. - Nguyên vật liệu dùng cho các mục đích khác.3 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là tài sản dự trữ sản xuất kinh doanh thuộc tài sản lưu động, thường xuyên biến động. Để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, các doanh nghiệp sản xuất phải thường xuyên mua NVL và xuất dùng cho sản xuất. Mỗi loại sản phẩm sản xuất được sử dụng từ nhiều thứ, nhiều loại vật liệu khác nhau, được nhập về từ nhiều nguồn và giá cả của vật liệu thường xuyên biến động trên thị trường. Bởi vậy để tăng cường công tác quản lý, vật liệu phải được theo dõi chặt chẽ tất cả các khâu từ khâu thu mua bảo quản, sử dụng tới khâu dự trữ.
Trong quá trình này nếu quản lý không tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, giá trị sản phẩm sản xuất ra. Do đó yêu cầu quản lý công tác NVL được thể hiện ở một số điểm sau: Trong khâu thu mua: quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất. chủng loại giá mua, chi phí mua và tiến độ thu mua, cung ứng phù hợp với kế hoạch sản suất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, phải theo dõi nắm SVTH: Trần Văn Hoàng 8 Lớp: K45D4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Trần Thị Hồng Mai bắt thông tin về tình hình thị trường, khả năng cung ứng của nhà cung cấp, các chính sách cạnh tranh tiếp thị của nhà cung ứng, tính ổn định của thị trường. Trong khâu bảo quản, dự trữ: cần phải tổ chức tốt kho tang, bến bãi, thực hiện đúng chế độ bảo quản; xác định định mức dự trữ tối thiểu, tối đa cho từng loại nguyên vật liệu để giảm bớt hư hỏng, hao hụt mất mát, đảm bảo an toàn, giữ được chất lượng của nguyên vật liệu sao cho NVL luôn cung ứng kịp thời cho sản xuất, tiêu thụ với chi phí thấp nhất. Cần có cảnh báo kịp thời khi có các dấu hiệu báo động về NVL tồn quá mức. Trong khâu sử dụng: Đòi hỏi phải thực hiện sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cở sở các định mức, dự toán chi phí nhằm hạ thấp mức tiêu hao vật liệu trong giá thành sản phẩm, tăng thu nhập, tích luỹ cho doanh nghiệp.
Vì vậy, trong khâu này cần tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng vật liệu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tóm lại, nguyên vật liệu là yếu tố đầu tiên trong quá trình tạo ra sản phẩm. Muốn sản phẩm đạt tiêu chuẩn, chất lượng cao và đạt được uy tín trên thị trường nhất thiết phải tổ chức việc quản lý nguyên vật liệu. Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tài sản ở doanh nghiệp sản xuất.
Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu Khi tiến hành công tác kế toán NVL trong doanh nghiệp sản xuất và xây dựng cơ bản kế toán cần thiết phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Thực hiện việc đánh giá phân loại vật liệu phù hợp với nguyên tắc, yêu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước và yêu cầu quản trị của doanh nghiệp. - Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán tổng hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng trong Doanh nghiệp để ghi chép, phân loại tổng hợp số liệu về tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của vật liệu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. - Tham gia vào việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, tình hình thanh toán với người bán, người cung cấp và tình hình sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh. SVTH: Trần Văn Hoàng 9 Lớp: K45D4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Trần Thị Hồng Mai 1.2 Đánh giá nguyên vật liệu Đánh giá vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định. Theo quy định hiện hành kế toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu trong doanh nghiệp phải được phản ánh theo giá thực tế (bao gồm giá mua cộng với chi phí thu mua, vận chuyển). Song do đặc điểm của vật liệu có nhiều chủng loại, nhiều thứ mà lại thường xuyên biến động trong quá trình sản xuất, để đơn giản và giảm bớt khối lượng tính toán, ghi chép hàng ngày thì kế toán vật liệu trong một số doanh nghiệp có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán vật liệu. Đánh giá vật liệu theo giá thực tế: a) Tính giá nguyên vật liệu nhập kho : Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu được nhập từ nhiều nguồn khác nhau nên giá thực tế của chúng cũng khác nhau.
Về nguyên tắc, giá vật liệu nhập kho được xác định theo giá thực tế bao gồm toàn bộ chi phí hình thành vật liệu đó cho đến lúc nhập kho.