phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Giới thiệu nghiên cứu Chƣơng 2: Các nghiên cứu trƣớc và cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Kết luận và giải pháp 4 CHƢƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các nghiên cứu trƣớc Đề tài về kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng là một đề tài phổ biến và thƣờng xuyên đƣợc chọn làm đề tài nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, mỗi dự án nghiên cứu có phạm vi thời gian khác nhau ứng với tình hình kinh tế nhiều biến động khác nhau, với mục tiêu chung là hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng của đơn vị. Từ đó sẽ nâng cao sự chính xác, đẩy đủ trong việc tính toán và chi trả cho ngƣời lao động hơn. Một số bài nghiên cứu trƣớc về đề tài cụ thể: Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2019) nghiên cứu về đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại công ty TNHH phát triển và dịch vụ du lịch Hƣớng Dƣơng”.
Tác giả nghiên cứu về thực trạng kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng của công ty và qua đó đánh giá thực trạng của tổ chức, đồng thời đề xuất các giải pháp, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng của công ty. Tác giả đã nêu rõ, phân loại về hình thức trả lƣơng và các khoản trích theo lƣơng nhƣ quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN. Tuy nhiên, tác giả vẫn chƣa đề cập đến hình thức kế toán của công ty cũng nhƣ kiến nghị của tác giả về xây dựng chế độ tiền thƣởng vẫn chƣa mang tính khả thi vì số lƣợng ngƣời lao động khá đông khó có thể tổ chức đợt xét thƣởng do công nhân tự bình bầu. Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Thu Hiền (2018) của Trƣờng Đại học Kinh tế Huế về đề tài “Kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thƣơng mại Bình An Phú”.
Tác giả đã hệ thống hóa rõ nét về cơ sở lý luận về kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại doanh nghiệp, ngoài ra đã đánh giá phân tích đƣợc thực trạng về công tác kế toán tiền lƣơng tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thƣơng mại Bình An Phú. Các kiến nghị, giải pháp của tác giả cũng mang tính tối ƣu, khả thi giúp công ty vừa hoàn thiện công tác kế toán, đặc biệt là kế toán tiền lƣơng chính xác hơn vừa giúp ngƣời lao động có thêm động lực làm việc. Theo Tạp chí Tài chính, tác giả Nguyễn Thị Sƣơng năm 2020 – thuộc khoa Kế toán của trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng đã nghiên cứu chủ đề về “Chế độ kế toán tiền lƣơng và một số lƣu ý đối với hạch toán tiền lƣơng tại doanh nghiệp”. Tác giả đã đƣa ra một số nội dung mà các doanh nghiệp phải lƣu ý trong công tác chi phí lƣơng nhƣ 5 tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật trong quy trình nghiệp vụ.
Đồng thời, doanh nghiệp phải chú trọng tính đầy đủ và chính xác của bộ hồ sơ, chứng từ liên quan đến quy trình kế toán tiền lƣơng để tránh xử phạt của pháp luật. Thông qua các tạp chí, nghiên cứu khoa học, bài báo có liên quan đến đề tài tiền lƣơng nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ ra đƣợc tầm quan trọng của kế toán chi phí lƣơng trong cả cơ quan nhà nƣớc và doanh nghiệp. Bộ phận kế toán tiền lƣơng phải luôn luôn công khai, tỉ mỉ, rõ ràng, chính xác trong mọi nghiệp vụ về sổ sách và chứng từ theo yêu cầu của nhà nƣớc để hạn chế vi phạm quy định pháp luật.2 Cơ sở lý thuyết về kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng 2.1 Những vấn đề chung về tiền lƣơng 2.1 Khái niệm Có rất nhiều khái niệm đƣợc đƣa ra để giải thích tiền lƣơng là gì. Đã có một số công ƣớc, văn kiện hay Bộ luật lao động đƣa ra các khái niệm khác nhau về tiền lƣơng.
Chẳng hạn nhƣ: Theo Tổ chức Lao động quốc tế quy định trong Điều 1 Công ƣớc số 95 năm 1949 về bảo vệ tiền lƣơng định nghĩa “Tiền lƣơng là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và đƣợc ấn định bằng thỏa thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động hoặc bằng pháp luật quốc gia, do ngƣời sử dụng lao động phải trả cho ngƣời lao động theo một hợp đồng thuê mƣớn lao động, bằng viết hoặc bằng lời nói cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. Theo Văn kiện Đại hội XI của Đảng ghi rằng: “Tiền lƣơng, tiền công phải đƣợc coi là giá cả sức lao động, đƣợc hình thành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc” Ngày nay, tiền lƣơng ở Viêt Nam đƣợc khái niệm theo Điều 90 của Bộ luật lao động năm 2019, “Tiền lƣơng là số tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác” 2.2 Các hình thức trả lƣơng Hiện nay các công ty thƣờng sử dụng cách tính lƣơng theo thời gian nhƣ ngày, tháng, năm và sức lao động của ngƣời lao động đã sử dụng để tạo ra thành phẩm cho doanh 6 nghiệp. Nhờ cách tính lƣơng theo đối tƣợng có thể phân chia thành nhiều hình thức trả tiền lƣơng gồm: Tính lƣơng theo thời gian: - Lƣơng theo giờ: Là tiền lƣơng dùng để chi trả cho ngƣời lao động trực tiếp theo giờ lao động. Đƣợc tính bằng cách lấy tổng tiền lƣơng trong ngày chia cho số giờ lao động thực tế làm việc theo chế độ hiện hành.
Đây sẽ làm căn cứ để tính tiền làm ngoài giờ cho CBCNV mỗi khi tăng ca. - Lƣơng theo ngày: Là tiền lƣơng dùng để trả cho ngƣời lao động theo từng ngày lao động, đƣợc tính bằng cách lấy khoản lƣơng theo tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ hiện hành. Đƣợc áp dụng cho đối tƣợng những ngày hội họp, học tập hay lao động ngắn hạn. - Lƣơng theo tháng: Là tiền lƣơng cơ bản đƣợc cố định trả cho ngƣời lao động, nhân viên làm cố định theo hợp đồng lao động, đƣợc thanh toán theo đúng quy định chế độ Nhà nƣớc ban hành, bao gốm các khoản tiền theo cấp bậc của mỗi CBCNV và các khoản phụ cấp.
Thƣờng đƣợc áp dụng cho các đối tƣợng nhân viên làm công tác quản lý hành chính và thuộc các khối ngành có tính chất hoạt động không sản xuất. - Lƣơng làm ngoài giờ: Đây là khoản tiền lƣơng cho những công việc đột xuất, bắt buộc làm thêm giờ, tăng ca sau những giờ làm việc theo quy định để kịp tiến độ công việc. Áp dụng theo điều 98 Bộ Luật Lao động số 45/2019/QH14 thì ngƣời lao động làm thêm giờ hay làm việc tăng ca vào ban đêm sẽ đƣợc trả lƣơng tính theo đơn giá tiền lƣơng hoặc theo công việc đang làm nhƣ sau: + Làm thêm giờ vào những ngày thƣờng, ít nhất bằng 150%. + Làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%.
+ Làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hƣởng lƣơng, ít nhất bằng 300% chƣa kể tiền lƣơng ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hƣởng lƣơng. Ƣu điểm của hình thức trả lƣơng theo thời gian là phù hợp với những công việc có tính chất khó định mức lao động cố định, công việc giản đơn, có tính tự động hóa và phù hợp với ngƣời lao động có nhu cầu làm việc thời vụ, nhân viên gián tiếp, nhân viên quản lí hoặc trả lƣơng nghỉ cho công nhân sản xuất. Nhƣợc điểm là cách trả lƣơng theo thời gian vẫn mang tính chất bình quân chƣa thật sự chính xác đúng với thời gian lao động, chƣa gắn kết đƣợc thu nhập với kết 7 quả lao động của từng ngƣời do đó không khuyến khích NLĐ nâng cao năng suất lao động. Tính lƣơng theo sản phẩm: Theo hình thức tính lƣơng theo sản phẩm thì lƣơng đƣợc tính theo số lƣợng và chất lƣợng thành phẩm, công việc hoàn thành để trả lƣơng cho ngƣời lao động.
Tùy vào quy trình sản xuất của từng doanh nghiệp mà tiến hành tính lƣơng theo sản phẩm: sản phẩm trực tiếp không hạn chế, sản phẩm gián tiếp, sản phẩm có thƣởng phạt, sản phẩm có lũy tiến. - Trả lƣơng theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế: hình thức trả lƣơng này căn cứ theo số lƣợng sản phẩm mà NLĐ trực tiếp thực hiện sản xuất, đơn giá trên mỗi sản phẩm không thay đổi ngay cả khi vƣợt định mức lao động. Tiền lƣơng theo sản phẩm trực tiếp đƣợc tính bằng số lƣợng thành phẩm nhân với đơn giá tiền lƣơng. - Trả lƣơng theo sản phẩm gián tiếp: hình thức này trả lƣơng cho công nhân sản xuất gián tiếp chẳng hạn nhƣ nhân viên vận chuyển vật liệu, bảo dƣỡng máy móc thiết bị, nhân viên giám sát,….
Nhóm lao động gián tiếp này không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm nhƣng có ảnh hƣởng gián tiếp đến năng suất lao động của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm. - Trả lƣơng theo sản phẩm có thƣởng phạt: hình thức này trả lƣơng theo sản phẩm nếu trong quá trình sản xuất chất lƣợng thành phẩm đƣợc nâng cao, vƣợt đƣợc chỉ tiêu đã đề ra cũng nhƣ tiết kiệm đƣợc nguyên vật liệu, nhiên liệu, hạn chế đƣợc tỉ lệ sản phẩm hƣ hỏng,… thì sẽ đƣợc trả lƣơng theo sản phẩm cộng thêm với chế độ tiền thƣởng theo quy định. Ngoài ra nếu NLĐ gây lãng phí nguyên liệu, không đảm bảo đƣợc chất lƣợng sản phẩm đầu ra, tỉ lệ hƣ hỏng sau khi kiểm tra cao làm ảnh hƣởng đến chỉ tiêu có thể bị phạt khi đó trả lƣơng theo sản phẩm trừ đi khoản tiền phạt. - Trả lƣơng theo sản phẩm có lũy tiến: hình thức này áp dụng cho công việc có tính chất đột xuất, sản xuất khẩn trƣởng đám bảo chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch sản xuất.
Ƣu điểm của hình thức trả lƣơng theo sản phẩm giúp khuyến khích NLĐ tăng năng suất lao động, thúc đẩy thi đua sản phẩm, góp phần hoàn thiện công tác quản lí và nâng cao trình độ, tích lũy chuyển môn, phát huy tính sáng tạo của NLĐ.