CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG LAM SƠN 1. Những vấn đề chung về hoạt động kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 1.1 Một số khái niệm liên quan đến kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương * Khái niệm tiền lương: Tiền lương: Là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả yếu tố của sức lao động mà người sử dụng (Nhà nước, chủ doanh nghiệp) phải trả cho người cung ứng lao động, tuân theo nguyên tắc cung - cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước. * Khái niệm và nội dung các khoản trích theo lương: - Bảo hiểm xã hội: + Mục đích: Quỹ bảo hiểm xã hội được nhằm tạo ra nguồn tài trợ cho công nhân viên trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động.Tùy theo cơ chế tài chính quy định cụ thể mà việc quản lí và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội có thể tại doanh nghiệp hay ở cơ quan chuyên trách chuyên môn. Theo cơ chế tái chính hiện hành nguồn quỹ bảo hiểm xã hội do cơ quan chuyên trách cấp trên quản lí và chi trả, các trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức.
+ Nguồn hình thành: Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành do việc trích lập vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và khấu trừ vào tiền lương của người lao động theo quy chế quy định. Theo quy định hiện hành, hàng tháng doanh nghiệp tiến hành trích lập quỹ bảo hiểm xã hội, theo tỉ lệ quy định (24%) trên tổng số tiền lương đóng bảo hiểm xã hội cho công nhân viên trong tháng. - Quỹ Bảo hiểm y tế: + Mục đích: Quỹ bảo hiểm y tế được lập để phục vụ cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho người lao động như: Khám và chữa bệnh. + Nguồn hình thành: Theo quy định của chế độ tài chính hiện hành, quỹ bảo hiểm y Sinh viên thực hiện: Trương Thị Thanh Mai – MSSV: 11010823 Trang 3 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.
Lê Thị Hồng Sơn tế được hình thành do trích lập theo tỉ lệ (4.5%) trên tổng số tiền lương đóng bảo hiểm cho công nhân viên. - Kinh phí công đoàn: + Mục đích: Kinh phí công đoàn được lập để phục vụ chỉ tiêu hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi của người lao động. + Nguồn hình thành: Kinh phí công đoàn được hình thành do việc trích lập và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hàng tháng theo tỉ lệ quy định tính trên tổng số tiền lương phải trả cho công nhân viên (tỉ lệ 2%). Số kinh phí công đoàn tính được cũng được phân cấp quản lí và chi tiêu theo chế độ quy định, một phần nộp lên cơ quan quản lí công đoàn cấp trên, một phần để lại tại doanh nghiệp để chi tiêu cho hoạt động của công đoàn cơ sở.
- Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp: + Mục đích: Bảo hiểm thất nghiệp là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật định. + Nguồn hình thành: Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau: + Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 1% tiền lương, tiền công tháng. + Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng. + Nhà nước sẽ hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp 1.2 Đặc điểm của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
- Tiền lương là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, là vốn ứng trước và đây là một khoản chi phí trong giá thành sản phẩm. - Trong quá trình lao động sức lao động của cong người bị hao mòn dần cùng với quá trình tạo ra sản phẩm. Muốn duy trì và nâng cao khả năng làm việc của con người thì cần phải tái sản xuất sức lao động. Do đó tiền lương là một trong những tiền đề vật chất có khả năng tái tạo sức lao động trên cơ sở bù lại sức lao động đã hao phí, bù lại thông qua sự thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng của người lao động.
- Đối với các nhà quản lí thì tiền lương là một trong những công cụ để quản lí doanh nghiệp. Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kế hoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu quả cao. Như vậy người sử dụng Sinh viên thực hiện: Trương Thị Thanh Mai – MSSV: 11010823 Trang 4 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th. Lê Thị Hồng Sơn sức lao động quản lí một cách chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng.3 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 1.1 Vai trò của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
Tiền lương duy trì thúc đẩy và tái sản xuất sức lao động. Trong mỗi doanh nghiệp hiện nay muốn tồn tại, duy trì, hay phát triển thì tiền lương cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay nếu doanh nghiệp nao có chế độ lương hợp lí sẽ thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng tốt. Trong bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần sử dụng một lưc lượng lao động nhất định tùy theo quy mô, yêu cầu sản xuất cụ thể.
Chi phí về tiền lương là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, sử dụng hợp lí lao động cũng chính là tiết kiệm chi phí về lao động sống (lương), do đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, cho người lao động trong doanh nghiệp. Tiền lương không phải là vấn đề chi phí trong nội bộ từng doanh nghiệp thu nhập đối với người lao động mà còn là một vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội mà Chính Phủ của mỗi quốc gia cần phải quan tâm.2 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. Kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương được tổ chức tốt là một trong những điều kiện để quản lí tốt quỹ lương và bảo hiểm xã hội đúng nguyên tắc, đúng chế độ.
Và nhiệm vụ của kế toán tiền lương là: - Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về số lượng lao động. - Tính và phân bổ chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương. - Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên kinh tế phân xưởng và các phòng ban có liên quan thực hiện đầy đủ việc hạch toán ban đầu về lao động tiền lương theo đúng quy định. - Lập báo cáo về lao động về tiền lương.
- Tham gia phân tích tình hình quản lí sử dụng lao động về số lượng, thời gian, năng suất. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng lao độ. - Phân tích tình hình quản lí, sử dụng quỹ tiền lương. Xây dựng phương án trả lương hợp lí.
Sinh viên thực hiện: Trương Thị Thanh Mai – MSSV: 11010823 Trang 5 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th. Lê Thị Hồng Sơn 1.4 Các hình thức tiền lương trong doanh nghiệp 1.1 Hình thức tiền lương trả theo thời gian lao động. Theo chế độ này các doanh nghiệp phải áp dụng hoặc vận dụng các thang lương, mức lương, hiện hành của Nhà nước. - Mức lương: là tiền lương trả cho người lao động cho một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng.) phù hợp với các cấp bậc trong thang lương.
Thông thường Nhà nước chỉ quy định mức lương bậc I hoặc mức lương tối thiểu với hệ số lương của cấp bậc tương ứng. - Thang lương: là biểu hiện xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa các công nhân cùng nghề hoặc nhiều nghề giống nhau theo trình tự và theo cấp bậc của họ. Mỗi thang lương đều có hệ số cấp bậc và tỷ lệ tiền lương ở các cấp bậc khác nhau so với tiền lương tối thiểu. Cũng theo các văn bản này nghĩa là cán bộ quản lý trong doanh nghiệp được thực hiện chế độ tiền lương theo chức vụ.
Chế độ tiền lương chức vụ được thể hiện thông qua các bảng lương chức vụ do Nhà nước quy định. Bảng lương chức vụ gồm có bậc lương chức vụ, hệ số lương, mức lương cơ bản. Hình thức trả lương tháng là hình thức tiền lương thời gian cố định là tiền lương thời gian đơn giản và một tháng tính 26 ngày làm việc. + Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho một tuần làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng nhân (x) với 12 tháng và chia (:) cho 52 tuần.
+ Tiền lương giờ: Là tiền lương trả cho một giờ làm việc và được xác định bằng cách lấy tiền lương ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn theo quy định của luật lao động (không quá 8 giờ/ ngày) 1.2 Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm. Lương trả theo sản phẩm là chế độ tiền lương mà thu nhập của mỗi người tuỳ thuộc vào hai yếu tố: số lượng sản phẩm làm ra trong th¸ng và đơn gi¸ tiền c«ng cho một sản phẩm. Khối lượng sản phẩm hoàn thành do tổ đội sản xuất thực hiện sẽ được nghiệm thu, xác nhận, tính ra tổng số lương phải trả cho tổ đội đó, sau đó dựa vào bảng chấm công để xác định ngày công bình quân và chia lương cho từng lao động. Trong hình thức trả lương theo sản phẩm thì việc ghi chép chính xác kịp thời số lượng và chất lượng sản phẩm hay khối lượng công việc hoàn thành của từng cá nhân, Sinh viên thực hiện: Trương Thị Thanh Mai – MSSV: 11010823 Trang 6 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.
Lê Thị Hồng Sơn tập thể là một công tác quan trọng làm căn cứ tính lương và trả lương cho người lao động. Cách tính lương theo thời gian: Số ngày Hệ số Mức lương Tiền lương thời x x = làm việc thực tế lương cơ bản gian phải trả Số ngày làm việc theo chế độ tháng ( 30 ngày) Lương tháng = Lương thời gian + phụ cấp (nếu có).