CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT-DỊCH VỤ 1.1 Những vấn đề chung về tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp sản xuất-dịch vụ 1.1 Khái niệm và bản chất của tiền lương 1. Khái niệm Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về tiền lương tùy thuộc vào trình độ và sự phát triển NKT. Theo lý thuyết tiền lương của W. Petty (1623 - 1687), ông coi LĐ là hàng hóa, tiền lương là giá cả tự nhiên của LĐ, giới hạn cao nhất của tiền lương là mức tư liệu sinh hoạt tối thiểu để nuôi sống NLĐ.
Tác giả cho rằng việc trả lương quá cao cho NLĐ sẽ gây thiệt hại cho xã hội, với điều kiện chủ nghĩa tư bản chưa phát triển, quan điểm này được giới chủ tư bản hưởng ứng mạnh mẽ. Theo nhà kinh tế học Adam Smith (1723 - 1790), tiền lương là thu nhập của NLĐ, cơ sở của tiền lương là giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và con cái họ để được tiếp tục đưa ra thay thế trên thị trường LĐ. Tác giả chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương như trình độ phát triển KT-XH, đặc điểm của NLĐ, điều kiện LĐ, tính chất công việc, trình độ chuyên môn nghề nghiệp. Mức tiền lương sẽ thay đổi bởi sự tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật giá cả.
Theo quan điểm của Các Mác, tiền lương là giá cả của hàng hóa - sức LĐ, biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của LĐ. Theo Các Mác, đã là hàng hóa thì hàng hóa sức LĐ cũng có giá trị và giá trị sử dụng, giá trị hàng hóa sức LĐ có cơ cấu bao gồm ba bộ phận là chi phí (giá trị các tư liệu sinh hoạt) để nuôi sống và duy trì khả năng 7 hoạt động của NLĐ; chi phí để nuôi sống gia đình; chi phí để đào tạo, nâng cao trình độ cho NLĐ. Qua các nghiên cứu, có thể thấy các khái niệm về tiền lương được nghiên cứu một cách tổng quát dựa vào nhiều yếu tố, làm tiền đề, cơ sở cho việc nghiên cứu về tiền lương trong từng lĩnh vực, phạm vi cụ thể. Theo Bộ luật LĐ Việt Nam, tiền lương trong DN được hiểu là “số tiền mà người sử dụng LĐ phải trả cho NLĐ căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc và điều kiện LĐ, được xác định theo sự thỏa thuận giữa hai bên trong quan hệ LĐ để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.
Và đây cũng chính là quan điểm của bài khóa luận.2 Bản chất Bản chất của tiền lương trong DN, trước hết thể hiện dưới góc độ kinh tế, tiền lương trong DN là kết quả của quá trình thỏa thuận trao đổi hàng hóa sức LĐ của NLĐ cung ứng sức LĐ của mình trong một khoảng thời gian nào đó hoặc trên nền tảng một kết quả của một SP hàng hóa, dịch vụ nào đó ra đời và sẽ nhận được một khoản tiền tương xứng đã thỏa thuận với DN. Theo Các Mác, giá trị sức LĐ bao gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để bù đắp lại sức LĐ đã hao phí trong quá trình sản xuất, giá trị của những chi phí nuôi dưỡng con người trước và sau tuổi có khả năng LĐ, giá trị những chi phí cần thiết cho việc học hành. Theo ông, những chi phí này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên và sinh lý của con người mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ văn minh đạt được. Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương không chỉ bị chi phối bởi quy luật giá trị mà còn bị chi phối bởi quy luật cung cầu LĐ.
Trong đó nếu cung LĐ lớn hơn cầu LĐ thì tiền lương sẽ giảm xuống; ngược lại, nếu cung LĐ nhỏ hơn cầu LĐ thì tiền lương sẽ tăng lên. Như vậy, tiền lương thường xuyên biến động quay quanh giá trị sức LĐ, nó phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt, sự biến động này quyết định bản chất của tiền lương. Việc NLĐ 8 cung ứng sức LĐ cho người sử dụng LĐ bao gồm các yếu tố: (i)Thời gian đã bỏ ra; (ii) Năng suất LĐ; (iii) Tinh thần, động cơ làm việc; (iv) Trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo, thì đổi lại, người sử dụng LĐ đã nhận kết quả của sự cung ứng sức LĐ đó, sẽ hoàn lại hoặc cam kết hoàn lại cho NLĐ: (i) Tiền lương cơ bản; (ii)Thưởng; (iii) Phụ cấp; (iv) Các chế độ bảo hiểm (nếu có); (v) Cơ hội thăng tiến và phát triển.2 Quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương 1.1 Quỹ tiền lương Khái niệm: Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp phải trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Thành phần của quỹ lương doanh nghiệp: - Tiền lương phải trả cho người lao động tính theo thời gian lao động thực tế, tiền lương tính theo SP, tiền lương khoán và các khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ, .các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên.
- Tiền lương phải trả cho người lao độngtrong thời gian ngừng sản xuất do những nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép, .Quỹ tiền lương được tính cả khoản tiền chi trợ cấp bảo hiểm xã hội cho công nhân thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,. - Tiền lương phải trả cho người lao động sản xuất ra SP hỏng trong phạm vi quy định. - Các khoản phụ cấp thường xuyên: phụ cấp học nghề, phụ cấp ăn trưa, phụ cấp đi công tác làm nghĩa vụ theo chế độ quy định, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, .quỹ tiền lương được tính cả khoản tiền chi trợ cấp bảo hiểm xã hội cho công nhân thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,. 9 Để phục vụ cho công tác hạch toán tiền lương trong doanh nghiệp có thể chia thành hai loại: Tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp.
- Tiền lương chính: là tiền lương phải trả cho người lao động trong thời gian người lao động thực hiện nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp. - Tiền lương phụ: là tiền lương phải trả cho người lao động trong thời gian người lao động thực hiệnnhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính và thời gian lao động nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ vì ngưng sản xuất, .được hưởng theo chế độ. Quỹ dự phòng tiền lương được trích từ lợi nhuận trước thuế TNDN. Căn cứ vào Điểm 2.6 Khoản 2 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC quy định: “Mức trích dự phòng tiền lương hàng năm không được vượt quá 17% quỹ tiền lương thực hiện.
Phải đảm bảo doanh nghiệp không bị lỗ sau khi trích lập. Nếu doanh nghiệp bị lỗ thì không được trích lập dự phòng tiền lương đủ 17%”.2 Các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ Quỹ BHXH Can cứ vào khoản 1, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, … trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Theo khoản 4, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định: “Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước.” Hàng tháng, DN trực tiếp chi trả BHXH cho NV ốm đau, tai nạn lao động hoặc mất khả năng lao động và tính bảo hiểm cho các trường hợp này. Trên cơ sở các chứng từ hợp lý hợp lệ, cuối tháng công ty tiến hành quyết toán với cơ quan BHXH.
10 Theo chế độ kế toán hiện hành, tỉ lệ trích lập quỹ BHXH đối với DN đóng bảo hiểm cho NLĐ là 17,5% trên tổng quỹ lương và tính vào chi phí SXKD, và 8% trừ vào tổng quỹ lương của người lao động. Quỹ BHYT Theo khoản 3, Điều 2, Luật Bảo hiểm y tế 2023 quy định: “Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế.” Theo khoản 1, Điều 18 Quyết định 595/QĐ-BHXH, các DN phải thực hiện trích quỹ BHYT bằng 4,5% tổng quỹ lương, trong đó doanh nghiệp phải chịu 3% (tính vào chi phí sản xuất -kinh doanh) còn người lao động trực tiếp nộp 1,5% (trừ vào thu nhập của họ). Quỹ BHTN Quỹ BHTN là quỹ để bù đắp thu nhập dành cho những người lao động mất việc, nghỉ việc. Theo điều 49, Luật việc làm năm 2013, người thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ điều kiện sau: -Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp.
-Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại tổ chức Bảo hiểm xã hội; Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp. Theo Điều 57, Luật việc làm năm 2024 quy định các doanh nghiệp phải thực hiện trích quỹ BHTN bằng 2% tổng quỹ lương, trong đó doanh nghiệp phải chịu 1% (tính vào chi phí sản xuất -kinh doanh) còn người lao động trực tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập của họ). 11 Quỹ KPCĐ Quỹ KPCĐ là nguồn được tạo lập bởi các tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Theo Điều 27, Luật Công đoàn 2024, hoạt động của công đoàn bao gồm: tuyên truyền, tổ chức hoạt động, đứng ra bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
Để duy trì hoạt động của công đoàn cần nguồn kinh phí mà nguồn kinh phí đó do người sử dụng lao động và người lao động đóng. Điều 4 Nghị định số 191/2013/NĐ-CP quy định mức đóng kinh phí công đoàn hàng tháng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cho người lao động. Trong đó, quỹ tiền lương là tổng mức tiền lương của những lao động thuộc đối tượng phải đóng BHXH bắt buộc theo quy định.