Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại doanh nghiệp. 4 + Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Rập 7. + Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Rập 7. Đóng góp của đề tài Đề tài được nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán tiền lương và đưa ra giải pháp, khắc phục nhược điểm, chung quy là để góp phần hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Rập 7.
Tổng quan của nghiên cứu trƣớc Theo Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2019) trong bài viết “ Hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH phát triển và dịch vụ du lịch Hướng Dương”, thông qua các cơ sở lý luận về tiền lương, làm rõ các khoản trích theo lương và tìm hiểu tình trạng thực tế của đơn vị, đánh giá các ưu nhược điểm đã nêu ra được các giải pháp xây dựng chế độ tiền thưởng, sử dụng phần mềm tối ưu hóa công tác kế toán và kiến nghị thêm quỹ đoàn. Tuy nhiên tác giả đưa ra giải pháp chế độ tiền thưởng chưa hợp lý và không mang tính khả thi dựa trên môi trường của đơn vị. Trong bài viết “ Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng Tín Đức” của tác giả Nguyễn Thị Kim Yến (2011), tác giả đã trình bày rất chi tiết các lý luận về tiền lương, hình thức tính lương và trả lương trong bài và đồng thời nêu rất rõ thực trạng đơn vị tác giả thực hiện bài nghiên cứu. Công ty có quy chế rõ ràng, làm đúng theo quy định của nhà nước tuy nhiên các khâu trong quy trình vẫn còn nhiều công đoạn chưa được chặt chẽ, còn nhiều thiếu sót như một số chứng từ không đủ chữ ký, hình thức tính lương theo hệ số cấp bậc trong một vài trường hợp vẫn chưa đánh giá đúng năng lực của nhân viên và tác giả đã đưa ra những kiến nghị giải quyết hợp lý nhằm nâng cao tính chặt 5 chẽ, kỉ luật trong công tác kế toán tiền lương tại đơn vị và nâng cao nghiệp vụ nhân viên.
Trong “Kế toán lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng – bất động sản Hodeco” của tác giả Nguyễn Đỗ Minh Tâm (2023) đã trình bày và cập nhật các quy định hiện hành về kế toán lương và khoản trích theo lương một cách đầy đủ và đề cập đến quá trình kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Bài viết đã chỉ ra được mặt thuận lợi về khâu tổ chức kế toán tối giản, phù hợp với quy mô doanh nghiệp và nêu ra những điểm còn hạn chế về bộ máy kế toán tuy tối giản nhưng vẫn còn sơ sài, phân bổ nhân lực chưa hợp lý dẫn đến dễ xảy ra rủi ro gian lận trong kiểm toán. Thông qua các bài viết, các nghiên cứu trước đó có thể thấy được các tác giả đều nhận định được những ưu, nhược điểm trong công tác kế toán lương tại đơn vị nghiên cứu và đưa ra những đề xuất giải pháp để củng cố công tác kế toán tại đơn vị. Nhìn chung các doanh nghiệp được nêu trên đều gặp phải những hạn chế về quy trình và bộ máy kế toán chưa thật sự chặt chẽ, chưa đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động đối với nhà nước cũng như của doanh nghiệp đối với nhà nước, ví dụ như việc tính thuế thu nhập cá nhân và các khoản chi tiêu liên quan đến hợp đồng lao động giữa hai bên.
Điều này là một phần cần được chú ý trong quá trình kế toán tiền lương. Các bài nghiên cứu trước tại đơn vị các tác giả công tác là tiền đề, cơ sở tham khảo để em có thể thực hiện đánh giá công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương và từ đó có thể nghiên cứu và phân tích thêm một số vấn đề mới trong công tác kế toán tiền lương tại đơn vị đang làm công ty TNHH Rập 7. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng 1.
Khái quát về tiền lương Tiền lương là khoản tiền người lao động nhận được khi sử dụng sức lao động của mình tham gia vào quá trình tạo ra giá trị sản phẩm cho doanh nghiệp, người dùng lao động bằng các cách thức như trí tuệ hay thể chất. Theo Bộ luật lao động ( năm 2019) , bộ luật nhận định về tiền lương “ Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.” Theo Bộ luật lao động (2019), chương VI. Tiền lương đã đề cập “ Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu”. Cụ thể, trong Nghị định số 38/2022/NĐ-CP được áp dụng từ ngày 01/07/2022 đến hết ngày 30/12/2023 đối với người lao động trong doanh nghiệp ( ngoài khu vực nhà nước) ghi nhận mức lương tối thiểu vùng cho đến thời điểm hiện tại theo Bảng 1.1: Mức lương tối thiểu của vùng như sau: Bảng 1.1: Mức lƣơng tối thiểu của vùng Vùng Mức lƣơng tối thiểu tháng Mức lƣơng tối thiểu giờ (Đơn vị: đồng/tháng) (Đơn vị: đồng/giờ) Vùng I 4.600 (Nguồn: Nghị định số 38/2022/NĐ-CP) Được nhận định là “ Giá cả sức lao động” trong văn kiện Đại hội XI của Đảng, Tiền lương đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả làm việc 7 của người lao động và cả doanh nghiệp.
Với một mức lương phù hợp chính là động lực tích cực để hoàn thành công việc, cài thiện năng suất và hiệu suất làm việc tại doanh nghiệp. Ngược lại, nếu không được trả đúng mức lương xứng đáng với thực lực, động lực làm việc của họ sẽ giảm. Việc giảm năng suất làm việc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công ty. Dựa theo quy định của Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 về Nguyên tắc trả lương và kỳ hạn trả lương : + Người dùng lao động có nghĩa vụ trả lương trực tiếp , đầy đủ và đúng thời hạn quy định cho NLĐ.
Trong trường hợp NLĐ không nhận tiền lương trực tiếp, người sử dụng lao động sẽ chuyển lương cho người được NLĐ ủy quyền hợp pháp để tất toán lương. + Đối với phương thức trả lương của người lao động dựa trên thời gian làm việc, sản phẩm hoặc khoán sẽ được thống nhất trong hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động phải thanh toán cho NLĐ ngay sau khi hoàn thành công việc hoặc thanh toán gộp tùy thuộc vào doanh nghiệp và thỏa thuận với người lao động. Nếu thỏa thuận trả lương gộp, thì tối đa chỉ được thực hiện một lần mỗi 15 ngày.
+ Người sử dụng lao động không được phép can thiệp vào việc chi tiêu lương của NLĐ; không bắt ép, chèo kéo NLĐ sử dụng tiền lương của họ vào việc mua sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp hoặc đơn vị mà người sử dụng lao động yêu cầu. Khái quát về các khoản trích theo lương. Các khoản trích theo lương Các khoản trích theo lương là khoản tiền mà người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả cho các quỹ bảo hiểm được nhà nước quy định. Với mục đích đảm bảo quyền lợi cho người lao động , nhà nước đã ban hành quy định về các khoản khấu trừ trên lương trong đó bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và Kinh phí công đoàn.
Cụ thể: 8 - Bảo hiểm xã hội (BHXH): Là khoản tiền được hình thành từ các khoản đóng của người lao động và người sử dụng lao động, cùng với sự hỗ trợ của nhà nước. BHXH được tạo ra nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động khi gặp các biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động, bao gồm: thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. - Bảo hiểm y tế (BHYT): Là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng cho các đối tượng theo quy định của Luật này nhằm cung cấp các chính sách chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ một phần chi phí dịch vụ khám, chữa bệnh cho đối tượng, không vì mục đích lợi nhuận, được tổ chức và thực hiện bởi Nhà nước dựa trên khoản 1 điều 2 của Luật Bảo Hiểm Y tế số 25/2008/Q12 ban hành ngày 14/11/2008. - Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): Là quỹ tài chính được lập ra để hỗ trợ cho NLĐ một phần gánh nặng tài chính trong khoảng thời gian không có việc làm và đang trong quá trình tìm công việc mới.
Để nhận được khoản tiền thất nghiệp, NLĐ phải đăng kí thất nghiệp với tổ chức BHXH, đảm bảo đóng đúng và đầy đủ từ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ khi đăng kí thất nghiệp. - Kinh phí công đoàn (KPCĐ): được lập ra nhằm phục vụ cho các hoạt động đoàn đội trong doanh nghiệp với mục đính bảo vệ quyền lợi và nâng cao chất lượng sống của người lao động. Đối tượng có nghĩa vụ phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong doanh nghiệp, khi đáp ứng điều kiện theo khoản 1 điều 2 Bộ luật bảo hiểm xã hội 2014 và nghị định 143/2018/NĐ-CP bao gồm: - Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng. - Người làm việc theo HĐLĐ từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng.
9 - Đối với những người lao động bán thời gian để kiếm thêm thu nhập thường là đối tượng học sinh, sinh viên… , theo quy định của pháp luật sẽ được xác định là người lao động không trọn thời gian – là người có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc tuần được quy định trong pháp luật về lao động theo điều 32 Bộ Luật Lao động 2019. Đối tượng này có quyền được đảm bảo những quyền lợi nhất định tương tự như công nhân viên bình thường. Chính vì thế, doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện ký kết hợp đồng dưới sự đồng thuận cả bên công ty và cá nhân người lao động, đảm bảo các mặt quyền lợi về bảo hiểm xã hội theo quy định.