CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tiền lương 1.1 Khái niệm về tiền lương Theo Chủ nghĩa Mác- Lenin: “ Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường lao động, sức lao động là hàng hóa, do vậy tiền lương là giá cả của của sức lao động” Ở góc độ khái quát nhất, định nghĩa về tiền lương được Tổ chức Lao động quốc tế quy định trong Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 về bảo vệ tiền lương. Định nghĩa này có tính phổ biến và được hầu hết các quốc gia cụ thể hoá trong pháp luật “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng lời nói cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm” Tại Việt Nam dưới gốc độ pháp lý thì khái niệm tiền lương được tiếp cận đơn giản tại điều 90 trong quy định bộ luật lao động năm 2019 có nội dung như sau:” Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác” 1.2 Bản chất của tiền lương Bản chất của tiền lương, tiền công là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và 5 người sử dụng lao động đồng thời chịu sự chi phối của quy luật kinh tế như quy luật cung – cầu, quy luật giá trị….3 Ý nghĩa của tiền lương Tiền lương trong doanh nghiệp là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích người lao động. Do đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng : - Tiền lương trả cho người lao động trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho người lao động đủ để tái sức sản xuất sức lao động, bồi dưỡng sức lao động và nâng cao trình độ - Tiền lương trả cho người lao động trong doanh nghiệp phải đảm bảo đúng chế độ tiền lương của nhà nước, gắn với yêu cầu quản lý lao động có tác dụng nâng cao kỉ luật và tăng cường thi đua lao động, sản xuất, kích thích người lao động nâng cao tay nghề và hiệu suất công tác. ( Trích: Trích Ngiêm Văn Lợi,02/2007, Giáo trình kế toán tài chính, nhà xuất bản tài chính, trang 42) Theo như quy định của pháp luật thì phần chi phí tiền lương được xác định là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra.
Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, hạch toán tốt lao động, trên cơ sở đó tính đúng thù lao lao động, thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan từ đó kích thích người lao động quan tâm đến thời gian, kết quả và chất lượng lao động, chấp hành tốt kỉ luật lao động, nâng cao năng suất lao động góp phần tiết kiệm chi phí về lao động, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời tạo 1.2 Hình thức trả lương trong doanh nghiệp Theo bộ luật số: 45/2019/QH14- LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 (có hiệu lực từ 1/1/2021). Chương VI điều 96 quy định có ba hình thức trả lương đó là trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Ngoài ra theo nghị định số 145/2020/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết về ba hình thức trả lương cụ thể như sau: 6 1.1 Trả lương theo thời gian Tiền lương theo thời gian được trả cho người lao động được hưởng lương theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động bao gồm lương năm, lương tháng, lương tuần và lương ngày. Hình thức này chủ yếu áp dụng cho bộ phận NLĐ gián tiếp, cụ thể là những bộ phận quản lý, văn phòng, bộ phận không tham gia trực tiếp vào sản xuất Đối với hình thức trả lương theo thời gian áp dụng khoản 1 và 2 điều 97 của luật lao động 2019 “ Người lao động được hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc có thể trả gộp do thỏa thuận của hai bên nhưng không quá 15 ngày phải được gộp một lần.
Người lao động được hưởng lương theo tháng được trả một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và được ấn định có chu kì” Ưu điểm: dễ hiểu, dễ tính và dễ thực hiện. Áp dụng hình thức này người lao động không phải chạy theo số lượng sản phẩm, vì vậy họ có nhiều thời gian để sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm, đầu tư cho chất lượng công việc Nhược điểm: Trong nhiều trường hợp tiền lương của người lao động nhận được không liên quan trực tiếp (không xứng đáng) đến sự đóng góp lao động của họ trong một khoảng thời gian nhất định. Từ đó cho thấy tính không chính xác và công bằng trong hình thức trả lương này 1.1 Hình thức trả lương theo tháng Lương tháng là tiền lương trả cho một tháng làm việc của người lao động được xác định theo mức ghi trong hợp đồng lao động hoặc quy định trong thang lương, bảng lương áp dụng cho người lao động đó.
Việc thanh toán lương được thực hiện một lần hoặc hai lần trong một tháng theo thời gian đã được ấn định trong hợp đồng lao động. Tiền lương được tính như sau: 7 Tiền Số ngày làm Tiền thưởng lương việc thực tế (nếu có) tháng Trong đó: - Mức tiền lương tháng= mức lương tối thiểu (hệ số lương + Phụ cấp ) - Số ngày làm việc theo quy định= số ngày trong tháng-số ngày nghỉ. Số ngày làm việc theo quy định trong tháng không vượt quá 26 ngày 1.2 Hình thức trả lương theo tuần Được trả lương trên cơ sở một tuần làm việc trên cơ sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần Tiền lương tuần 1.3 Hình thức trả lương theo ngày Lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc của người lao động được xác định trên cơ sở lương tháng chia cho số ngày làm việc tiêu chuẩn trong tháng của đơn vị sử dụng lao động nhưng không quá 26 ngày 1.4 Hình thức trả lương theo giờ Lương giờ là tiền lương trả cho một giờ làm việc của người lao động được xác định trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc tiêu chuẩn một ngày của đơn vị, nhưng không quá 8 giờ một ngày 8 Ngoài ra tại khoản 1 điều 98 bộ luật lao động 2019 quy định về tiền lương làm thêm giờ, cụ thể như sau: 1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: a, Vào ngày thường, ít nhất bằng 150% b, Vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200% c, Vào ngày nghỉ lễ tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất 300% chưa kể tiền lương ngày lễ,tết,ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày 1.Trả lương theo sản phẩm Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương căn cứ vào số lượng và chất lượng sản phẩm mà người lao động làm ra.
Để thực hiện trả lương theo sản phẩm, người sử dụng lao động phải xây dựng mức khoán sản phẩm cho người lao động trong một thời gian nhất định và xác định đơn giá tiền lương trên một đơn vị sản phẩm Tiền lương của người lao động phụ thuộc trực tiếp vào số lượng sản phẩm mà họ đã sản xuất ra, được người sử dụng lao động chấp nhận và đơn giá tiền lương mà người sử dụng lao động áp dụng cho sản phẩm đó. Tiền lương theo sản phẩm cũng được trả định kì theo thời gian, thông thường là theo tháng là việc của người lao động Hình thức trả lương theo sản phẩm bao gồm nhiều loại tùy đối tượng hưởng lương và trường hợp khác nhau. Những hình thức tiêu biểu đang sử dụng hiện nay đó là : lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân, lương theo sản phẩm tập thể, lương theo sản phẩm gián tiếp, lương theo sản phẩm có thưởng… Trả lương theo sản phẩm có tác dụng gắn kết người lao động với kết quả công việc. Vì vậy người lao động sẽ tự ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của mình từ việc hoàn thành định mức, tăng năng suất lao động… Tính chính xác và công bằng trong việc trả lương ở hình thức này dễ dàng được thực hiện hơn so với hình thức trả lương theo thời gian.
Song ở hình thức này việc tính toán và trả lương sẽ khó khăn hơn 9 A, Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp Đây là hình thức được nhiều doanh nghiệp áp dụng hiện nay để trả lương. Tiền lương được xác định như sau Tiền lương theo SP Đơn giá tiền lương Số lượng SP, công việc thực = x trực tiếp theo sản phẩm tế hoàn thành Trong đó: Đơn giá tiền lương sản phẩm tiền lương trả cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành. Đơn giá này không thay đổi theo tỷ lệ hoàn thành định mức lao động nên còn được gọi là hình thức tiền lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế. Ngoài ra, trong đơn giá còn tính thêm tỷ lệ khuyến khích trả lương sản phẩm hoặc phụ cấp khu vực ( nếu có) B, Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp Thường được áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ phận phục vụ sản xuất như lao động vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc, thiết bị… không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất lao động trực tiếp, do đó tiền lương của bộ phận gián tiếp sẽ phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản xuất Tiền lương nhận được trong Số lượng sản phẩm của Đơn giá của bộ = x tháng của bộ phận gián tiếp bộ phận trực tiếp phận gián tiếp Trong đó Đơn giá của bộ phận gián tiếp= 10 C, Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng có phạt Đây là hình thức trả lương kết hợp giữa trả lương theo sản phẩm và tiền thưởng.
Khoản tiền này được trích ra từ lợi ích kinh tế mang lại khi vượt chỉ tiêu đã đề ra ban đầu cả về chất lượng và số lượng.