chương 1 tổng quan về đề tài, tác giả cần đưa ra những cơ sở để thực hiện khóa luận như tính cấp thiết của đề tài để lý giải vì sao chọn hoạt động huy động TGTK làm đề tài, tìm các công trình nghiên cứu liên quan để tham khảo cho bài viết và nêu lên sự khác biệt của khóa luận so với các công trình trước đây. Đồng thời, tác giả đặt ra mục tiêu, câu hỏi, phạm vi, đối tượng và các phương pháp nghiên cứu để định hướng cho toàn bài khóa luận. Cuối cùng, tác giả nêu lên ý nghĩa của đề tài và chia bố cục cho đề tài để tiếp tục thực hiện khóa luận của mình. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM 2.1 Những vấn đề chung về tiền gửi tiết kiệm 2.1 Khái niệm Theo Điều 5 Thông tư 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng.
Hay nói một cách dễ hiểu, đây là sản phẩm dành cho khách hàng có một khoản tiền nhàn rỗi, muốn đầu tư cho tương lai, giúp họ có được một khoản lãi sau một thời gian tiết kiệm tại Ngân hàng mà họ muốn giao dịch. Về các loại tiền gửi tiết kiệm, tùy thuộc vào mỗi Ngân hàng mà có những sản phẩm TGTK khác nhau. Nhưng các NHTM đều có chung hai hình thức đặc trưng đó là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Thời hạn gửi tùy theo thỏa thuận giữa NH và KH.
Đối với lãi tiền gửi, theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 14/2017/TT-NHNN, số tiền lãi là khoản tiền tổ chức tín dụng phải trả cho khách hàng gửi tiền hoặc khách hàng nhận cấp tín dụng phải trả cho tổ chức tín dụng về việc sử dụng khoản tiền đã nhận. Số tiền lãi được tính trên thời hạn và lãi suất mà KH đã thỏa thuận với NH trước khi bắt đầu giao dịch. Cũng trong khoản 1 Điều 4 Thông tư này, lãi suất tính lãi được quy đổi theo tỷ lệ %/năm (lãi suất năm) và quy định một năm là 365 ngày.2 Phân loại Tiền gửi tiết kiệm được phân chia thành 2 loại: TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn TGTK không kỳ hạn: Là một loại sản phẩm mà ngân hàng cung ứng để giúp khách hàng tích lũy dần những khoản tiền nhỏ để đáp ứng một khoản chi tiêu nào đó trong tương lai mà vẫn 8 được hưởng lãi. Khi mở tài khoản này, khách hàng có thể tùy ý gửi tiền hoặc rút tiền.
Do các giao dịch này không thường xuyên, chủ yếu là giao dịch gửi tiền và rút tiền trực tiếp nên chi phí của ngân hàng thấp, vì vậy ngân hàng có thể trả lãi cho khách hàng mà không sợ làm tăng chi phí, nhưng do tính chất không ổn định của loại tiền gửi này nên lãi suất tiền gửi thường thấp. Khi khách hàng gửi tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi. Sổ tiền gửi này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, số dư hiện có, tiền lãi được hưởng hoặc khách hàng được cung cấp một báo cáo tài khoản sau mỗi lần giao dịch thay cho số tiền gửi. TGTK có kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngoài việc trả lãi cho khách hàng - Tiền lãi tính theo công thức (2.1) thường còn đi kèm với mục đích cụ thể như tiết kiệm để mua nhà ở, tiết kiệm có thưởng,.
So sánh giữa TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn: Đặc điểm chung của hai loại tiền gửi tiết kiệm đều là vốn huy động từ KHCN của NHTM và chiếm phần lớn tổng số nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, có nhiều điểm khác biệt giữa hai loại này bao gồm: Đặc điểm TGTK không kỳ hạn TGTK có kỳ hạn Kỳ hạn Không có kỳ hạn, kỳ hạn sẽ kết Có kỳ hạn, kỳ hạn tùy theo KH thúc nếu KH muốn hủy sản muốn gửi trong bao lâu. Phương thức KH có thể gửi/rút vốn gốc lẫn lãi Có 3 phương thức lấy lãi: Trả lấy vốn gốc và bất kỳ lúc nào. trước, định kỳ và đáo hạn.
lãi Vốn gốc chỉ được trả khi đáo hạn. Lãi suất Rất thấp, lãi suất có thể thay đổi Khá cao, thường cố định trong trong thời gian gửi. thời gian gửi.3 Phương pháp tính lãi - Đối với TGTK không kỳ hạn, tiền lãi sẽ được tính phương pháp tích số cho một chu kỳ, thông thường là theo tháng vì do khách hàng có quyền gửi tiền vào và rút tiền ra bất kỳ lúc nào và lãi suất áp dụng cho sản phẩm này rất thấp. Công thức tính lãi như sau: ∑ ( 𝑆ố 𝑑ư 𝑡ℎự𝑐 𝑡ế 𝑥 𝑠ố 𝑛𝑔à𝑦 𝑑𝑢𝑦 𝑡𝑟ì 𝑠ố 𝑑ư 𝑡ℎự𝑐 𝑡ế 𝑥 𝐿ã𝑖 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑡í𝑛ℎ 𝑙ã𝑖) Số tiền lãi = (2.1) 365 - Còn đối với TGTK có kỳ hạn, tiền lãi cũng tính theo công thức (2.1), vì sản phẩm có tính chất ổn định trong một thời gian và lãi suất khá cao nên NH chỉ tính dựa trên số dư ban đầu khi mở sổ tiết kiệm.
Khách hàng chỉ được rút vốn gốc khi đến kỳ hạn đã được thỏa thuận, nếu không, KH chỉ nhận được mức lãi suất thấp hơn so với mức đã thỏa thuận ban đầu. Ngoài ra, còn có một vài điểm lưu ý về các yếu tố tính lãi, theo điểm a khoản 1 Điều 5 của thông tư 14/2017/TT-NHNN quy định về các yếu tố tính lãi như sau: - Thời hạn tính lãi được xác định từ ngày tiếp theo ngày giải ngân khoản cấp tín dụng hoặc ngày tiếp theo ngày nhận tiền gửi đến hết ngày thanh toán hết khoản cấp tín dụng, khoản tiền gửi (bỏ ngày đầu, tính ngày cuối của thời hạn tính lãi) và thời điểm xác định số dư để tính lãi là đầu mỗi ngày trong thời hạn tính lãi. - Số dư thực tế là số dư đầu ngày tính lãi của số dư tiền gửi mà bên nhận tiền gửi còn phải trả cho bên gửi tiền được sử dụng để tính lãi theo thỏa thuận và quy định của pháp luật về nhận tiền gửi. - Số ngày duy trì số dư thực tế là số ngày mà số dư thực tế đầu mỗi ngày không thay đổi.
- Lãi suất tính lãi được tính theo tỷ lệ %/năm.4 Quy trình nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Quy trình giao dịch của ngân hàng có 2 mô hình: giao dịch một cửa và giao dịch thông thường.1-Sơ đồ quy trình giao dịch một cửa gửi tiền, thu tiền KHÁCH HÀNG (1) Chứng từ gửi, rút (4b) (2) Giao dịch viên (3) Sai Duyệt (4a) Đúng (5) (7b) Kiểm soát viên (6) Sai Duyệt (7a) Đúng (8) Thu, chi và ghi sổ Nguồn: Nguyễn Thị Loan (2017) Đối với quy trình giao dịch “một cửa”, ngân hàng sẽ chuyển giao trách nhiệm thu chi cho bộ phận giao dịch viên với hạn mức được quy định tại NH. Như 11 vậy, các khoản thu chi nhỏ sẽ không cần giao cho bộ phận ngân quỹ mà các GDV được trực tiếp làm.1), quy trình được diễn giải như sau: (1), (2) Khách hàng đến yêu cầu mở sổ tiết kiệm, GDV làm các thủ tục mở thông tin và mã KH để xuất ra hồ sơ KH trên hệ thống của NH. Đồng thời, GDV xuất ra chứng từ nộp/rút và kiểm tra các chứng từ xem đã đúng với thông tin trên hệ thống hay chưa. (3), (4a) Nếu các chứng từ khớp với thông tin trên hệ thống, GDV sẽ chuyển giao cho KSV kiểm tra và ký duyệt.
(4b) Nếu không khớp với thông tin trên hệ thống, GDV sẽ từ chối giao dịch tiếp do KH không đưa thông tin chính xác. (5), (6), (7a), (7b) Sau khi nhận được chứng từ từ GDV, KSV sẽ kiểm tra lại một lần nữa. Nếu đúng, KSV sẽ ký duyệt và giao lại cho GDV tiếp tục giao dịch. Còn nếu không, KSV sẽ giao lại toàn bộ cho GDV kiểm tra lại một lần nữa.
(8) Bước cuối cùng, sau khi nhận được các chứng từ và sổ từ KSV, GDV tiến hành việc thu chi, ghi sổ rồi giao cho KH và không quên giao kèm theo đó là 1 liên phiếu thu/chi cho KH. Còn đối với giao dịch thông thường, điểm khác biệt so với giao dịch một cửa đó là người thu chi trực tiếp là thủ quỹ (TQ). Vậy theo như sơ đồ (2.1), ở bước (8), sau khi KSV ký duyệt xong, sẽ giao chứng từ cho TQ để kiểm đếm thu chi tiền mặt rồi giao phiếu thu cho KH giữ 1 liên và 1 liên giao cho GDV. Còn sổ tiết kiệm GDV sẽ ghi rồi giao cho KH.
Quy trình được tóm tắt qua sơ đồ 2.2-Sơ đồ quy trình giao dịch thông thường gửi tiền, rút tiền Kiểm soát viên Duyệt Đúng Thủ quỹ Giao dịch viên Thu chi Ghi sổ Nguồn: Nguyễn Thị Loan (2017) Như vậy, quy trình tiền gửi được thiết lập ở mỗi một ngân hàng hay bộ phận giao dịch tiền gửi có thể khác nhau tùy theo cách thức tổ chức của mỗi NH, nhưng việc thiết lập quy trình tiền gửi nói chung phải đạt được yêu cầu kiểm soát được tất cả các nghiệp vụ phát sinh dù nó được ghi chép bằng tay, bằng máy hay bằng hệ thống xử lý dữ liệu điện tử.5 Văn bản pháp lý của NHNN có liên quan đến nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tất cả các NHTM đều chấp hành quy định về tiền gửi tiết kiệm theo Thông tư 48/2018/TT-NHNN, được ban hành vào ngày 31/12/2018 và áp dụng từ ngày 05/07/2019 đến nay. Nội dung thông tư nêu rõ quy định về đối tượng được gửi tiền, khái niệm về tiền gửi, hình thức gửi, sổ tiết kiệm, thủ tục,… 13 Thông tư 14/2017/TT-NHNN quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng được ban hành vào 29/09/2017 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 đến nay. Thông tư nêu ra các công thức tính lãi, nguyên tắc tính lãi và quy định minh bạch lãi suất. Cụ thể như: Lãi suất tính lãi được quy đổi theo lãi suất năm, 01 năm được xác định là 365 ngày; cho phép TCTD được thỏa thuận với KH về thời hạn tính lãi và thời điểm xác định số dư để tính lãi; TCTD phải cung cấp đầy đủ thông tin cho KH về phương pháp tính lãi và mức lãi suất tính lãi;… Và cuối cùng là thông tư số 05/VBHN-NHNN về việc ban hành hệ thống tài khoản kế toán các TCTD được công bố vào ngày 17/01/2018.