Chương 1: Lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Chương 2:Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Quảng Đức Phong. Chương 3:Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại tại công ty TNHH Quảng Đức Phong. 10 CHƯƠNG1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp 1. Khái niệm, bản chất và phân loại doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh 1. Khái niệm, bản chất và phân loại doanh thu trong doanh nghiệp a. Khái niệm doanh thu Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS01) có định nghĩa doanh thu là: “ Tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS14) với nội dung về doanh thu và thu nhập khác, doanh thu cũng được định nghĩa là: “ Tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Theo thông tư số 200/2014/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành vào ngày 22/12/2014, doanh thu được định nghĩa theo cách hiểu như “Lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông”. Chuẩn mực kế toán Quốc tế số 15 (IFRS15) định nghĩa “Doanh thu là thu nhập phát sinh trong quá trình hoạt động bình thường của một đơn vị” và thu nhập là các khoản làm “Tăng lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức dòng đi vào hoặc tăng tài sản hoặc giảm nợ phải trả dẫn đến tăng vốn chủ sở 11 hữu, không liên quan đến các khoản đóng góp từ những cổ đông”. Có thể hiểu doanh thu là các khoản làm tăng lợi ích kinh tế trong kỳ của doanh nghiệp, làm tăng vốn chủ sở hữu và không bao gồm các khoản đóng góp từ cổ đông.
Bản chất của doanh thu Từ các khái niệm về doanh thu đã được đề cập, có thể rút ra bản chất của doanh thu là tổng hợp lợi ích kinh tế thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường trong kỳ của doanh nghiệp. Doanh thu có ảnh hưởng nhất định đến vốn chủ sở hữu khi có khả năng làm tăng chỉ tiêu này, tuy nhiên không phải khi nào vốn chủ sở hữu tăng cũng đồng nghĩa với tăng doanh thu bởi kết quả tăng của vốn chủ sở hữu có thể đến từ nhiều nguyên nhân. Bên cạnhnguyên nhân đến từ việc tăng doanh thu, có thể kể đếntrường hợp tăng các khoản góp vốn của cổ đông,chênh lệch đánh giá lại tài sản hay tăng lợi ích kinh tế đến từ các nguồn khác dẫn đến tăng vốn chủ sở hữu. Như vậy, doanh thu có bản chất chỉ bao gồm các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được từ hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Phân loại doanh thu Doanh thu được phân loại theo nhiều tiêu thức, căn cứ nội dung giáo trình “Kế toán tài chính” của trường Đại học Thương mại, doanh thu được phân loại theo 5 tiêu thức. Thứ nhất, doanh thu được phân loại căn cứ theo mục đích, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Tiêu thức phân loại này bao gồm hoạt động kinh doanh, phương thức thanh toán tiền hàng, mối quan hệ với khu vực địa lý và mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp. Theo tiêu thức hoạt động kinh doanh, doanh thu được phân loại thành doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu hoạt động tài chính.
Trong đó doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm doanh thu đến từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp phát sinh trong kỳ.Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm doanh thu phát sinh từ hoạt động 12 tài chính của doanh nghiệp như tiền lãi doanh nghiệp cho vay, tiền bản quyền và tiền cổ tức được chia và các hoạt động tài chính khác. Theo phương thức thanh toán tiền hàng, doanh thu được chia thành doanh thu thu tiền ngay, doanh thu trả chậm và doanh thu nhận trước. Doanh thu thu tiền ngay là các khoản doanh thu được thu bằng tiền ngay khi bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ. Doanh thu trả chậm là doanh thu trong hợp đồng khi đó khách hàng, sau khi nhận hàng, sử dụng dịch vụ thì chỉ thanh toán một phần và phần còn lại trả dần trong một khoảng thời gian chịu điều chỉnh của điều khoản quy định trong hợp đồng.
Doanh thu nhận trước là các khoản doanh thu chưa thực hiện, thời gian giữa thanh toán và mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ diễn ra không cùng một thời điểm, theo đó khách hàng trả tiền trước và nhận hàng hóa hay sử dụng dịch vụ sau. Tiếp theo, doanh thu được phân loại căn cứ theo tiêu thức mối quan hệ với điểm hòa vốn, doanh thu được chia thành doanh thu hòa vốn và doanh thu an toàn. Doanh thu hòa vốn là mức doanh thu của khối lượng hàng bán đạt được tại điểm hòa vốn. Doanh thu an toàn là phần chênh lệch dương giữa doanh thu thực hiện được và doanh thu hòa vốn.
Phân loại theo mối quan hệ với khu vực địa lý, doanh thu được chia thành doanh thu trong nước và doanh thu ngoài nước. Doanh thu trong nước bao gồm các khoản doanh thu thu được từ hoạt động kinh doanh diễn ra tại thị trường trong nước. Doanh thu nước ngoài là doanh thu thu được từ hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài bao gồm hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. Và cuối cùng, doanh thu được phân loại theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp, doanh thu được chia thành doanh thu nội bộ và doanh thu bên ngoài.
Doanh thu nội bộ là các khoản doanh thu thu được từ hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ diễn ra trong nội bộ của doanh 13 nghiệp. Doanh thu bên ngoài là toàn bộ khối lượng hàng hóa, dịch vụ thực tế của doanh nghiệp bán cho các đối tượng khách hàng ngoài doanh nghiệp. Khái niệm, bản chất và phân loại chi phí trong doanh nghiệp a. Khái niệm chi phí Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS01), chuẩn mực chung có định nghĩa chi phí: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành vào ngày 22/12/2014, theo đó, khái niệm chi phí được định nghĩa như sau: “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”. Từ các khái niệm trên có thể khái quát định nghĩa chi phí. Theo đó, chi phí được hiểu là tổng các khoản mục làm giảm lợi ích kinh tế phục vụ cho hoạt động kinh doanh trực tiếp trong kỳ của doanh nghiệp, các khoản mục này được ghi nhận ngay tại thời điểm phát sinh khi có căn cứ chắc chắn, không phân biệt đã chi tiền hay chưa. Bản chất của chi phí Chi phí, thông qua các định nghĩa khác nhau, đại diện cho các hao phí có thể đo lường phục vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, là sự hao phí về mặt vật chất có thể đo lường nhằm mục đích thu được lợi ích trong tương lai dưới hình thái vật chất c.
Phân loại chi phí Theo giáo trình “Kế toán tài chính” của trường Đại học thương mại, chi phí chủ yếu được phân loại theo 3 tiêu thức bao gồm chức năng hoạt động 14 kinh doanh, theo mối quan hệ với mức độ hoạt động và theo phương pháp tập hợp chi phí và đối tượng chịu chi phí. Theo chức năng hoạt động kinh doanh, chi phí được chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Chi phí sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính, * Đối với chi phí sản xuất, nội dung cụ thể như sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp giá trị nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm, ngoài chi phí nguyên ật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp còn bao gồm chi phí nguyên vật liêu phụ (kể cả nhiên liệu) dùng trực tiếp trong sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản tiền lương, tiền công và các khoản trích theo lương (kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội) của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ. - Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả các chi phí không thuộc hai nhóm trên như chi phí lao động gián tiếp, phục vụ hoạt động sản xuất; Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất; Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị (tài sản cố định) dùng trong hoạt động sản xuất và chi phí bằng tiền khác. * Chi phí ngoài sản xuất bao gồm: - Chi phí bán hàng thể hiện những hao phí cần thiết trong quá trình tiêu thụ hàng hóa. Chi phí bán hàng bao gồm: Chi phí về lương và các khoản trích theo lương, chi phí vận chuyển hàng hóa tiêu thụ, chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu dùng trong hoạt động bán hàng, … 15 - Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cần thiết sử dụng trong hoat động quản lý hành chính, quản lý kinh doanh và trong các hoạt động khác.