CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VÀ CHỨC NĂNG CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm doanh nghiệp thương mại Giữa thương mại và sản xuất hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sản xuất hàng hóa không thể tồn tại nếu hàng hóa sản xuất ra không đến được với người tiêu dùng trong thời gian cần thiết, ngược lại, hoạt động thương mại sẽ không xuất hiện nếu hàng hóa không được sản xuất.
Theo trình độ phát triển của xã hội và nền kinh tế, hai hoạt động sản xuất và thương mại ngày càng được chuyên môn hóa cao độ, khó có doanh nghiệp nào đủ nguồn lực để thực hiện tốt một lúc cả hai hoạt động này, do đó hình thành nên 2 ngành chủ chốt của nền kinh tế là sản xuất và thương mại. Doanh nghiệp thương mại là một đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận [14] 1. Chức năng của doanh nghiệp thương mại. Doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá nên có một số đặc điểm sau: - Chức năng lưu chuyển hàng hoá trong nền kinh tế nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội.
Đây là chức năng xã hội của doanh nghiệp thương mại. Để tực hiện tốt chức năng này thì doanh nghiệp phải nghiên cứu nắm vững thị trường, huy động và sử dụng tốt các nguồn hàng, tổ chức các mối quan hệ giao dịch thương mại, đảm bảo việc phân phối hàng hoá thông qua các kênh phân phối. 14 - Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông. Chức năng này thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thực hiện phân loại hàng hoá, đóng gói hàng hoá, ghép đồng bộ sản phẩm, bảo quản và vận chuyển hàng hoá.
Khi thực hiện chức năng này, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao giá trị sử dụng hàng hoá, thoả mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng và nâng cao khả năng thâm nhập thị trường của hàng hoá. - Chức năng tiếp theo của các doanh nghiệp thương mại là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, cũng như có tác động tích cực đối với phân công lao động xã hội. Nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động thương mại và dịch vụ càng phong phú, đa dạng. Hiện nay, sự phát triển thương mại và dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Người ta thấy rằng, trń h độ phát triển kinh tế của một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ - thương mại trong cơ cấu ngành kinh tế nước đó càng lớn. Thương mại và dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển. - Chức năng cuối cùng của doanh nghiệp thương mại là tạo điều kiện cho tái sản xuất. Thông qua hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, các chủ thể kinh doanh mua bán được sản phẩm, quá trình lưu thông hàng hóa được diễn ra liên tục và thông suốt, giúp ngành sản xuất thanh khoản được hàng hóa, thực hiện và rút ngắn chu kỳ kinh doanh.
Do đó, nếu không có hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại, quá trình sản xuất sẽ bị đình trệ. DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Doanh thu và phân loại doanh thu a. Khái niệm doanh thu Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) [3] “Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thoả thuận giữa DN với bên mua, bên sử dụng dịch vụ 15 hoặc bên sử dụng tài sản.
Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại” Có thể xem xét và ghi nhận những khoản được coi là DT của DN dưới dạng sự gia tăng của các dòng vốn vận động, có thể coi DT là lợi tức hay là các luồng tiền vào hoặc tiết kiệm luồng tiền ra hoặc là những lợi ích tương lai dưới hình thức gia tăng giá trị tŕi sản lŕ tổng hợp sự gia tăng của tài sản hay nguồn vốn nghĩa là DT là tổng số tiền và khoản phải thu có được từ hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng trong suốt thời kỳ đó. Tuy nhiên, phải hiểu rằng không phải tất cả nghiệp vụ làm tăng tiền và tăng những tài sản khác đều liên quan đến tăng DT và không chỉ có DT làm thay đổi vốn chủ sở hữu. Đối với các doanh nghiệp thương mại, DT phát sinh từ các hoạt động khác nhau, bao gồm: DT từ hoạt động BH&CCDV, DT HĐTC. Doanh thu BH & CCDV bao gồm DT từ bán sản phẩm, hàng hóa mua vào và bán bất động sản đầu tư, thực hiện các công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một kỳ hoặc nhiều kỳ kế toán, cung cấp các dịch vụ vận tải, cho thuê TSCĐ theo phương thức thuê hoạt động.
Doanh thu HĐTC bao gồm DT từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia và doanh thu HĐTC khác của DN (thu nhập về hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn; thu nhập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản góp vốn liên doanh, đầu tư vào Cty liên kết, đầu tư vào Cty con, đầu tư vốn khác; thu nhập về các hoạt động đầu tư khác; chênh lệch lãi do bán ngoại tệ; chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn; các khoản doanh thu HĐTC khác). Trên thực tế có rất nhiều khái niệm về DT, tuy nhiên về bản chất thì DT chính là tổng lợi ích phát sinh từ hoạt động SXKD mà DN đã thu ðýợc trong kỳ kế toán. 16 Việc nhận thức rõ bản chất của DT và xác định đúng đắn phạm vi, thời điểm, cơ sở ghi nhận DT có tính chất quyết định đến tính khách quan, trung thực của chỉ tiêu DT trong BCTC. Góp phần mang lại thắng lợi trong các quyết định kinh doanh.
Phân loại doanh thu Trong quá trình SXKD của đơn vị, có rất nhiều các khoản DT, thu nhập phát sinh trong kỳ. Trên cơ sở các thông tin về DT của DN, DN sẽ xác định đúng KQKD của từng loại hình SX, từng loại sản phẩm. Để quản lý tốt các khoản DT, các DN có thể tiến hành PL doanh thu theo các cách sau: (1) Phân loại doanh thu theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh Phân loại theo tiêu thức này DT bán hàng bao gồm hai loại: DT bán hàng nội bộ và DT bán hàng ra ngoài. - Doanh thu bán hàng nội bộ: là DT của khối lượng bán hàng trong nội bộ hệ thống tổ chức của DN như tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong TCT.
- Doanh thu bán hàng ra ngoài: là toàn bộ DT của khối lượng sản phẩm, hàng hóa DN đã bán ra cho khách hàng ngoài phạm vi DN - Nếu DN lựa chọn phân loại DT theo tiêu thức này sẽ xác định được chính xác kết quả HĐKD của DN, cung cấp thông tin chính xác cho công tác lập BCTC hợp nhất mang tính tập đoàn, toàn ngành.từ đó ra những quyết định chính xác trong việc lựa chọn các phương án kinh doanh. (2) Phân loại doanh thu theo khu vực địa lý Theo tiêu thức này DT của DN được chia làm 2 loại: - DT nội địa: là các khoản thu được từ BH&CCDV vụ trong nước. - DT quốc tế: là các khoản thu từ BH&CCDV vụ phát sinh tại nước ngoài. 17 Việc phân loại theo tiêu thức này giúp nhà quản trị xác định được mức độ hoạt động theo khu vực địa lý, là căn cứ để đánh giá mức sinh lợi cũng như rủi ro trong kinh doanh của từng khu vực, trên cơ sở đó các nhà quản trị có những giải pháp và những phương án kinh doanh hợp lý.
Phân loại theo tiêu thức này cũng sẽ cung cấp được số liệu phục vụ cho việc lập BCTC bộ phận của từng DN. (3) Phân loại doanh thu theo tình hình kinh doanh Theo tiêu thức này doanh thu của DN được phân loại như sau: - Doanh thu bán hàng hóa: Là toàn bộ doanh thu của khối lượng hàng hóa đã bán được trong kỳ. - Doanh thu bán thành phẩm: Là DT của toàn bộ khối lượng sản phẩm, thành phẩm đã bán trong kỳ, hay đã được xác định tiêu thụ trong kỳ. - Doanh thu cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ DT của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và đã được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
- Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Là toàn bộ các khoản DT từ trợ cấp, trợ giá của nhà nước khi DN thực hiện các nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của nhà nước. - Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư: là toàn bộ các khoản DT cho thuê bất động sản đầu tư và DT bán, thanh lý bất động sản đầu tư. Cách phân loại này giúp cho DN xác định DT của từng loại hình hoạt động của DN. Trên cơ sở đó xác định tỷ trọng DT của từng loại hoạt động, đâu là hoạt động mũi nhọn, từ đó có phương án kinh doanh hợp lý.
Chi phí và phân loại chi phí 1. Khái niệm chi phí 18 Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu.Để đạt được mục tiêu đó nhất thiết các doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Chi phí có thể hiểu một cách khái quát là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh; hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực kinh tế, về tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo IASC định nghĩa về chi phí như sau: “Chi phí là các yếu tố làm giảm các lợi ích kinh tế trong niên độ kế toán dưới hình thức xuất đi hay giảm giá trị tài sản hay làm phát sinh các khoản nợ, kết quả là làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu mà không do việc phân phối nguồn vốn cho các bên chủ sở hữu”.