phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục có liên quan, nội dung của Đề án được kết cấu thành 3 phần cụ thể như sau: Phan 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Phần 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phi và kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bắt động sản Hải Long Land. Phan 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bắt động sản Hải Long Land. PHẢNI CO SO LY LUAN CUA KE TOAN DOANH THU, CHI PHi VA KET QUA KINH DOANH TRONG DOANH NGHIEP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm doanh thu Theo Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 15 (IFRS15): “Đoanh thu là tổng các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm nguôn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phân đóng góp của những người tham gia góp vốn cổ phân. Doanh thu không bao gồm những khoản thu cho bên thứ ba”. Chuẩn mực VAS 01, cũng xác định tương tự “Doanh thu và thụ nhập khác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phân làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản vốn chủ sở hữu, không bao gôm khoản vốn của các cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo chuẩn mực VAS số 14 “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phân làm tăng vốn chủ sở hữu”. Điều 78 thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 hướng dẫn về chế độ kế toán doanh nghiệp “Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phân đóng góp thêm của các cô đông. Doanh thu được ghỉ nhận tại thời điểm giao dịch phái sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyên nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền”. Hiểu đơn giản, “Doanh thu là toàn bộ tiền, tài sản thu được trong quá trình mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, hoạt động khác của các cá nhân hoặc tổ chức ”.
Trong kinh doanh, doanh thu được đánh giá quyết định đến sự duy trì của DN bởi lẽ muốn có được lợi nhuận thì trước hết phải có được doanh thu. DT tạo ra từ: Doanh thu bán hàng là DT từ bán sản phâm, hàng hóa đã được doanh nghiệp đầu tư. Doanh thu hoạt động tài chính là số tiền thu được từ việc cho thuê tài sản, tiền lãi cho vay, tiền lãi ngân hàng, tiền lãi từ việc đầu tư trái phiếu chính phủ giao dịch chứng khoán. Doanh thu từ hoạt động bất thường (thu nhập khác) là khoản tiền thu về từ việc bán các vật tư hàng hóa dư thừa, thanh lý tài sản, các khoản nợ đã được hoàn trả lại sau một thời gian dài.
Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua đo hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Oo góc độ quản trị, doanh thu của DN có doanh thu hòa vốn là tại thời điểm sản lượng hòa vốn.
Sản lượng hoà vốn là mức sản lượng mà doanh nghiệp tạo ra khi doanh thu vừa đủ dé có thể bù đắp những chỉ phí mà doanh nghiệp đã phải đầu tư ban đầu. Doanh thu thực hiện là tổng số tiền nhận được từ việc thực hiện các hoạt động kinh donah của một công ty trong một thời gian. Khái niệm chỉ phí Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VASO1 — Chuẩn mực chung): “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiên chỉ ra, các khoản khẩu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gôm các khoản phân phối cho cô đông hoặc Chủ sở hữu”. Như vậy, dưới góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm chỉ phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh thông thường và các chi phí khác đề đạt được một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định.
Chỉ phí được định lượng và thể hiện dưới dạng một lượng tiền chi ra, khấu hao tài sản cố định, một khoản nợ dịch vụ, nợ thuế. Các chi phí này được kế toán ghi nhận trên cơ sở các chứng từ số sách kế toán hợp lệ chứng minh việc phát sinh của chúng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dưới góc độ kế toán quản trị, ngoài nhận thức chỉ phí như trong kế toán tài chính, các nhà quản trị còn phải nhận thức chi phí theo góc độ nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Do đó, chi phí có thể là những phí ton thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh được tông hợp theo từng bộ phận, từng trung tâm chỉ phí, cũng như xác định giá trị hàng tồn kho trong từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ.
Chi phí có thể gồm cả những phí tổn mất đi do chọn lựa phương án này thay cho phương án khác. Tuy việc nhận thức chi phí có nhiều quan điểm khác nhau, hình thức thể hiện chi phí khác nhau nhưng chúng đều có những điểm chung: - Chi phí là hao phí tài nguyên (kê cả hữu hình và vô hình), vật chất, lao động, đó chính là nguồn lực của DN. Những hao phí này phải gắn liền với mục đích SXKD. - Phải định lượng được bằng tiền và được xác định trong một khoảng thời gian nhất định.
Chỉ phí gồm nhiều loại chỉ phí khác nhau, theo mục đích công dụng của chỉ phí gồm giá vốn hàng bán, chỉ phí tài chính, chi phi ban hàng, chỉ phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khác”. Khái niệm kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh là phần chênh lệch giữa doanh thu, thu nhập và chi phí của doanh nghiệp sau một kỳ hoạt động kinh doanh nhất định. KQKD là lãi nếu doanh thu lớn hơn chỉ phí và ngược lại KQKD là lỗ nếu doanh thu nhỏ hơn chỉ phí. KQKD của hoạt động san xuất kinh doanh cơ bản là số chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu thuần hoạt động tài chính, chị phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh vảo thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác theo quy định của pháp luật. Lợi nhuận sau thuế là phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi thuế TNDN phải nộp. Kết quả kinh doanh có thể xác định theo các cách khác nhau: KQKD = Số dư đảm phí - Định phí Trong đó, Số dư đảm phí là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ đi biến phí. - Theo mối quan hệ các chỉ tiêu trình bày BCTC, KQKD gồm: KQHDKD là số chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu tài chính với trị giá vốn hang bán, chi phí bán hang, chi phi quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính.
Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác ngoài dự toán của doanh nghiệp, hay những khoản thu không mang tính chất thường xuyên, hoặc những khoản thu có dự tính nhưng ít có khả năng xảy ra do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mang lại. - Theo yêu cầu quản trị, KQKD gồm: Kết quả kinh doanh toàn bộ là kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn DN. Kết quả kinh doanh bộ phận là kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận doanh nghiệp. KQKD = DTT — GVHB + (DTTC - CPTC) + ( TN khác - CP khác) 1.
Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán, chỉ phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp Yêu cầu quản lý doanh thu: Quản lý doanh thu là quá trình sử dụng thông tin phân tích, dự đoán sở thích người dùng nhằm tối ưu hoá sản phẩm và giá thành đề tạo nên tối đa doanh thu. Việc này sẽ giúp duy trì hoạt động kinh doanh thành công, đảm bảo lợi nhuận tối đa và tránh thất thoát chỉ phí trong điều kiện nguồn lực của DN. Việc quản lý doanh thu là cách quản lý bán hàng vô cùng quan trọng khi vận hành doanh nghiệp, đòi hỏi kế toán phải thường xuyên theo dõi và phản ánh một cách kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến doanh thu bằng cách tổ chức theo đối hạch toán một cách hợp lý và khoa học. Người quản lý phải biết cách lựa chọn công cụ hỗ trợ phù hợp đề tối ưu hóa các quy trình tính toán, thống kê, báo cáo tài chính.
Sử dụng phần mềm quản lý là một lựa chọn thông minh cho các mô hình kinh doanh hiện đại và nó đang trở thành xu thế hiện nay. Có 3 cách quản lý doanh thu phổ biến phù hợp đó là: Ghi chép vào số sách; Quản lý doanh thu bằng excel; Sử dụng các phần mềm quản trị doanh thu. Yêu cầu quản lý chỉ phí: Quản lý chi phí là việc kiểm soát các chỉ phí thực tế hoặc dự báo phát sinh của một doanh nghiệp. Quản lý tốt chỉ phí là một yêu cầu cần thiết, giúp nhà quản lý ra quyết định chính xác, bởi lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào việc quản lý chỉ phí hiệu quả.
Tính toán và kiểm soát chi phí là cách để doanh nghiệp duy trì ngân sách và đánh giá giá thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, việc quản lý chi phí không chỉ đơn thuần là bài toán tài chính, mà còn phải dựa trên việc quản lý nhân sự của nhà quản lý. Yêu cầu quản lý kết quả kinh doanh: Kết quả kinh doanh là thước đo phản ánh chính xác hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.